Soạn bài Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh của Lí Bạch – văn 7

1. Tóm tắt nội dung bài học

a. Nội dung

  • Tình yêu quê hương sâu nặng.
  • Tình yêu thiên nhiên.

b. Nghệ thuật

  • Từ ngữ giản dị, tinh luyện, cô đọng.
  • Miêu tả kết hợp với biểu cảm.
  • Biểu cảm trực tiếp kết hợp biểu cảm gián tiếp.
  • Phép đối.
  • Câu rút gọn.

2. Hướng dẫn đọc – hiểu văn bản

Câu 1. Ý kiến cho rằng hai câu đầu của bài thơ thuần tuý tả cảnh, hai câu sau của bài thơ thuần tuý tả tình là chưa chính xác, bởi:

  • Hai câu đầu
    • Ta hãy chú ý đến chữ “sàng” trong câu thơ thứ nhất (sàng ở đây có nghĩa là giường). Như thế chữ sàng gợi cho ta nghĩ rằng nhà thơ đang nằm mà không ngủ được. Và cũng vì nằm trên giường không ngủ thì mới thấy ánh trăng xuyên qua cửa.
    • Hơn thế nữa chắc chắn phải có một chủ thể trữ tình ở đây thì mới có cái sự “nghi” (Ngỡ mặt đất phủ sương) được. Nhân vật trữ tình rất có thể là chưa ngủ, hoặc ngủ rồi nhưng tỉnh dậy và không ngủ được nữa. Trong trạng thái mơ màng ấy mới có cái sự nghi ngờ rất đẹp (trăng sáng mà ngỡ là sương).

→ Như thế dù không trực tiếp tả người, câu thơ vẫn gợi lên được trạng thái và tình cảm của con người.

  • Hai câu thơ sau cũng vậy.
    • Thực ra chỉ có đúng ba chữ trực tiếp tả tình, đó là: tư cố hương (nhớ về quê cũ), còn lại đều tả cảnh, tả người. Hay nói chính xác hơn cảnh được tả để chuyển tải cái tình quê hương da diết.
  • Kết luận
    • Trong bài thơ này (và cả một số bài thơ Đường khác nữa)
      • Hai câu đầu (hoặc nửa trên) thường thiên về tả cảnh (trong cảnh có tình)
      • Ngược lại hai câu sau thiên về tả tình (trong tình có cảnh).

Câu 2.

  • So sánh về mặt từ loại ở hai câu cuối
    • Hai câu thơ giống nhau
      • Về mặt từ loại.
      • Về cấu trúc ngữ pháp.
      • Số lượng chữ.
Từ loại Động từ Danh từ Động từ Tính từ Danh từ
Câu 3 Cử Đầu Vọng Minh Nguyệt
Câu 4 Đê Đầu Cố Hương
  • Tác dụng của phép đối
    • Vừa diễn tả cử chỉ.
    • Vừa thể hiện tâm trạng của nhà thơ.

→ Cảnh – tình khăng khít, gắn bó không thể tách bạch.

Câu 3.

  • Bài thơ ngắn chỉ gồm hai mươi chữ mà có tới 5 động từ: nghi (ngỡ), cử (ngẩng), vọng (nhìn), đê (cúi) và tư (nhớ). Thực ra nếu theo dõi thứ tự của bốn động từ này, chúng ta có thể nhận ra mạch cảm xúc của bài thơ.
    • Bốn động từ đều bị lược đi chủ thể hành động nhưng có thể dễ dàng khẳng định, chủ thể trữ tình, chủ thể hành động ở đây chính là tác giả.
    • Các từ này diễn tả hành động và tâm trạng của nhân vật trữ tình. Có mối quan hệ chặt chẽ, vừa đối lập, vừa nhân quả, thống nhất. Năm động từ tạo thành một mạch cảm xúc vận động rất nhanh, có thể hiện thực hoá lại bằng văn xuôi như sau: nhân vật trữ tình (nhà thơ) tỉnh dậy (hoặc đang mơ màng ngủ) thì nhận ra ánh sáng đang lọt qua khe cửa, ngỡ ngàng vì không biết là sương hay là trăng, nhà thơ ngẩng lên như là một hành động để mà xác nhận. Nhưng rồi chính cái khoảnh khắc ngẩng đầu kia lại gợi về trong lòng tác giả nỗi niềm của người xa xứ. Hành động cúi đầu như là đang cố nén đi cái cảm xúc mãnh liệt đang trào dâng.
  • Tĩnh dạ tứ với những từ ngữ giản dị mà tinh luyện. Bài thơ đã thể hiện một cách nhẹ nhàng mà thấm thía tình quê hương của một người sống xa nhà trong đêm trăng thanh tĩnh.

3. Hướng dẫn luyện tập

Câu 1. Có người đã dịch “Tĩnh dạ tứ” thành hai câu thơ:

Đêm thu trăng sáng như gương,

      Lí Bạch ngắm cảnh nhớ thương quê nhà.

  • Hai câu thơ này tuy đã nêu được đầy đủ các ý và tình cảm có trong bài thơ, song vẫn còn có một vài điểm khác, đó là:
    • Lí Bạch không so sánh trăng với sương và trên thực tế, sương chỉ xuất hiện trong cảm giác của nhà thơ.
    • Chủ thể trữ tình của bài thơ không được nhắc đến (nó được ẩn đi và chỉ xuất hiện trong sự suy luận của chúng ta).
    • Bản dịch đã không chuyển tải được năm động từ (nghi, cử, vọng, đê, tư) đã có.
  • Thử dịch thành thơ theo thể thơ lục bát hoặc cổ thể

Trăng sáng rọi đầu giường

Mặt đất như sương phủ

Nhìn vầng trăng vằng vặc

Da diết nhớ quê hương

Viết một bình luận