Bài 9: Lục Vân Tiên gặp nạn

1. Tìm hiểu chung

a. Tác giả

  • Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888)
  • Quê quán: Làng Tân Thới, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định.
  • Cuộc đời:
    • Ông xuất thân trong một gia đình quan lại nhỏ, học giỏi, giàu lòng hiếu thảo, cả cuộc đời sáng ngời nhân nghĩa, tình yêu nước thương dân.
    • Cuộc đời riêng đầy bi kịch: bị mù, công danh dở dang.
    • Tình chung đau xót: đất nước ta bị giặc Pháp xâm lăng, đất Nam Bộ mất dần vào tay giặc.
    • Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ lớn của đất nước ta trong những nửa sau thế kỉ XIX.

b. Tác phẩm

  • Các tác phẩm chính của ông:
    • Các truyện thơ: Truyện Lục Vân Tiên, Dương Từ Hà Mậu, Ngư Tiều y thuật vấn đáp.
    • Nhiều bài thơ, bài văn tế tuyệt tác: Chạy giặc, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Văn tế Trương Định, Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh, v.v…
    • Tất cả văn thơ Nguyễn Đình Chiểu đều viết bằng chữ Nôm thấm đẫm tư tưởng nhân nghĩa, giàu lòng yêu nước thương dân và căm thù giặc sôi sục.
  • Đoạn trích
    • Đoạn này nằm ở phần thứ hai của truyện.
    • Vân Tiên và Tiểu đồng bị Trịnh Hâm hãm hại do đố kị, ghen ghét tài năng của Vân Tiên.

c. Bố cục: 2 phần

  • Văn bản được bố cục thành hai phần.
    • Phần 1: 8 câu đầu: Trịnh Hâm hãm hại Vân Tiên.
    • Phần 2: Còn lại: Vân Tiên được cứu giúp

2. Đọc hiểu văn bản

a. Tội ác của Trịnh Hâm

  • Hoàn cảnh của Lục Vân Tiên: tiền hết, mù loà, bơ vơ nơi đất khách.
  • Trịnh Hâm đã “giúp đỡ” Lục Vân Tiên. “Đêm khuya lặng lẽ như tờ…Cho người thức dạy lấy lời phui pha“.

→ Việc làm có sự sắp xếp, chuẩn bị, mưu tính trước sau.

  • Nguyên nhân: tính đố kị, ganh ghét tài năng, lo cho con đường tiến thân của mình ngay từ khi mới gặp nhau, kết bạn với nhau thấy Vân Tiên tài cao, Trịnh Hâm đã có thái độ: so đo, lo âu.
  • Dù bạn đã mù song Trịnh Hâm vẫn ra tay hãm hại, chứng tỏ sự độc ác dường như đã ngấm vào máu thịt hắn, đã trở thành bản chất con người hắn.

⇒ Trịnh Hâm: độc ác, bất nhân (đang tay hãm hại con người đang cơn hoạn nạn…), bất nghĩa (Vân Tiên là bạn của hắn), mưu mô, xảo quyệt.

b. Việc làm nhân đức và nhân cách của Ngư ông

​⇒ Cả nhà dường như nhốn nháo, hối hả lo chạy chữa để cứu sống Vân Tiên, mỗi người một việc. Đó chính là tình cảm chân thành của gia đình ông Ngư đối với người bị nạn.

  • Biết tình cảnh khốn khổ của Vân Tiên.
    • Ông Ngư sẵn lòng cưu mang chàng

Ngư rằng: Người ở cùng ta

Hôm nay hẩm hót với già cho vui“.

  • Không hề tính toán đến cái ơn cứu mạng mà Vân Tiên chẳng hề báo đáp:

Ngư răng: Lòng lão chẳng mơ

Dốc lòng nhơn nghĩa há chờ trả ơn

→ Tấm lòng bao dung, nhân ái, hào hiệp của ông Ngư đối lập với tính ích kỉ, nhỏ nhen, độc ác của Trịnh Hâm.

  • Cuộc sống của Ngư ông: “Rày doi mai vịnh vui vầy”.

→ Lời thơ thanh thoát, uyển chuyển, hình ảnh thơ đẹp, gợi cảm.

⇒ Cuộc sống phóng khoáng, hoà nhập bầu bạn với thiên nhiên. Đó là cuộc sống trong sạch, ngoài vòng danh lợi, hoàn toàn xa lạ với những toan tính nhỏ nhen, ích kỉ, mưu danh, trục lợi, sẵn sàng trà đạp lên đạo đức, nhân nghĩa.

  • Lời nói về cuộc sống của Ngư ông chính là tiếng lòng của Nguyễn Đình Chiểu thể hiện khát vọng về một cuộc sống tốt đẹp, một lối sống đáng mơ ước đối với con người.

⇒ Nguyễn Đình Chiểu gửi gắm khát vọng vào niềm tin về cái thiện vào con người lao động bình thường, bộc lộ quan điểm nhân dân tiến bộ. Ông hiểu cái xấu, cái ác thường lẩn khuất sau những mũ cao, áo dài của bọn ngời có địa vị cao sang, nhưng vẫn còn những cái đẹp, đáng kính trọng, đáng khao khát, tôn tại bền vững nơi những con người nghèo khổ mà nhân hậu, vị tha, trọng nghĩa khinh tài.

3. Tổng kết

a. Nội dung

  • Sự đối lập giữa cái thiện và cái ác, giữa nhân cách cao cả và những toan tính thấp hèn, đồng thời thể hiện thái độ quý trọng và niềm tin của tác giả với nhân dân lao động.

b. Nghệ thuật

  • Cách sắp xếp các tình tiết hợp lí, diễn biến hành động nhanh gọn.
  • Lời thơ mộc mạc, giản dị.
  • Hình ảnh thơ đẹp, gợi cảm, giàu cảm xúc.

Viết một bình luận