Bài 10: Nghị luận trong văn bản tự sự

1. Yếu tố nghị luận trong văn bản tự sự

Đọc lại đoạn trích a và b trong sách giáo khoa trang 137 – 138 để trả lời các câu hỏi sau:

  • Nghị luận là nêu lí lẽ, dẫn chứng để bảo vệ một quan điểm, tư tưởng nào đó.
  • Căn cứ vào định nghĩa này hãy tìm và chỉ ra những câu, chữ thể hiện rõ tính chất nghị luận trong hai đoạn trích trên.
  • Từ việc tìm hiểu hai đoạn trích, hãy trao đổi trong nhóm để hiểu nội dung và vai trò các yếu tố nghị luận trong văn bản tự sự nói chung. Yếu tố nghị luận có thể làm cho văn bản tự sự thêm sâu sắc như thế nào?
  • Trong mỗi đoạn trích nhân vật nêu ra những đặc điểm gì?
  • Để làm rõ luận điểm đó người nói đã đưa ra luận cứ gì và lập luận như thế nào?
  • Các câu trong văn bản tự sự thường là câu gì?
  • Các từ ngữ thường được dùng để lập luận trong văn bản tự sự là những từ ngữ nào?

Gợi ý

Đoạn a.

  • Những suy nghĩ nội tâm của nhân vật ông giáo trong “Lão Hạc”. Như một cuộc đối thoại ngầm, ông giáo đối thoại với chính mình, thuyết phục chính mình, rằng vợ mình không ác để “chỉ buồn chứ không nỡ giận“.
  • Các luận điểm và lập luận:
  • Nêu vân đề: Nếu ta không cố mà tìm hiểu những người xung quanh thì ta luôn có cớ để tàn nhẫn và độc ác với họ (nêu vấn đề).
  • Phát triển vấn đề: Vợ tôi không phải là người ác, nhưng sở dĩ thị trở nên ích kỉ, tàn nhẫn là vì thị đã quá đau khổ:
    • Khi người ta đau chân thì chỉ nghĩ đến cái chân đau (từ một quy luật tự nhiên).
    • Khi người ta khổ đau thì người ta không còn nghĩ đến ai được nữa.
    • Vì cái bản tính tốt của người ta bị những nỗi lo lắng, buồn đau, ích kỉ che lấp mất.
  • Kết thúc vấn đề: Tôi biết vậy nên chỉ buồn chứ không nỡ giận.
  • Sử dụng các câu hô ứng thể hiện các phán đoán dưới dạng Nếu…thì; vì thế…cho nên; sở dĩ…là vì; khi A…thì B.
  • Các câu văn khẳng định, ngắn gọn, khúc triết như diễn đạt những chân lí.

Đoạn b

  • Cuộc đối thoại giữa Hoạn Thư và Thúy Kiều được diễn ra dưới hình thức nghị luận.
  • Những lập luận
  • Sau lời chào mỉa mai là lời đay nghiến.
    • Xưa nay đàn bà có mấy người ghê gớm, cay nghiệt như mụ.
    • Xưa nay, càng cay nghiệt lắm thì càng chuốc lấy oan trái.
  • Kiểu câu: “càng…càng”.
  • Cách lập luận: có 4 luận điểm
    • Tôi là đàn bà ghen tuông là chuyện thường tình.
    • Tôi cũng đã đối xử rất tốt với cô khi ở gác viết kịch: khi cô trốn khỏi nhà, tôi cũng chẳng đuổi theo.
    • Tôi với cô đều trong cảnh chồng chung – chắc gì ai nhường cho ai.
    • Tôi cũng đã gây đau khổ cho cô nên bây giờ chỉ biết trông nhờ vào lòng khoan dung rộng lớn của cô (nhận tội, đề cao tâng bốc Kiều).
  • Lập luận của Hoạn Thư có tác dụng:
    • Kiều phải công nhận tài của Hoạn Thư “khôn ngoan”.
    • Kiều bị đặt vào một tình huống khó xử.
  • Nghị luận thực chất là các cuộc đối thoại với các nhận xét phán đoán, các lí lẽ nhằm thuyết phục người nghe, người đọc (có khi thuyết phục chính mình) về một vấn đề, một quan điểm, một tư tưởng nào đó
  • Trong đoạn văn nghị luận thường dùng nhiều câu khẳng định, phủ định, các cặp quan hệ từ: nếu…thì; không những…mà còn; càng …càng…
  • Thường dùng nhiều từ ngữ: Tại sao:thật vậy, tuy thế, trước hết, tóm lại, tuy nhiên…

⇒ Trong văn bản tự sự để người đọc người nghe phải suy nghĩ về một vấn đề nào đó, người viết và nhân vật có khi nghị luận bằng cách nêu lên các ý kiến, nhận xét cùng những lí lẽ, dẫn chứng. Nội dung đó thường được diễn đạt bằng hình thức lập luận, làm cho câu chuyện thêm phần triết lí.

2. Ghi nhớ

  • Trong văn bản tự sự để người đọc phải suy nghĩ một vấn đề nào đó người viết và nhân vật có khi nghị luận bằng cách nêu lên ý kiến, nhận xét cùng những lí lẽ, dẫn chứng.
  • Nội dung đó thường được diễn đạt bằng hình thức lập luận, làm câu truyện thêm phần triết lí.

Viết một bình luận