Bài 4: Lão Hạc – Nam Cao

1. Tìm hiểu chung

a. Tác giả

  • Nam Cao (1915-1951) tên khai sinh là Trần Hữu Tri, quê ở làng Đại Hoàng, phủ Lí Nhân, tỉnh Hà Nam.
  • Ông là một nhà văn hiện thực xuất sắc với những truyện ngắn, truyện dài chân thực viêt về người nông dân nghèo bị vùi dập và người trí thức nghèo sống mòn  mỏi; bê tắc trong xã hội cũ.
  • Sau Cách mạng, Nam Cao chân thành, tận tụy sáng tác phục vụ kháng chiến.
  • Ông đã hi sinh trên đường công tác ở vùng sau lưng địch.
  • Nam Cao được nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
  • Tác phẩm chính:“Chí Phèo, Trăng sáng, Đời thừa, Lão Hạc…”

b. Tác phẩm

  • “Lão Hạc” là một trong những truyện ngắn xuất sắc viết về người nông dân của Nam Cao; đăng báo lần dầu năm 1943.
  • Tóm tắt tác phẩm:
    • Lão Hạc là người cô đơn, vợ mất, con bỏ đi đồn điền cao su, lão nuôi và yêu quý con Vàng
    • Đói kém, bị ốm, phải tiêu vào tiền dành dụm cho con → Lão Hạc phải bán con Vàng
    • Nhờ ông giáo trông hộ vườn, giữ tiền ma chay cho mình → tự tử bằng bả chó.
  • Truyện ngắn đã thể hiện một cách chân thực, cảm động số phận đau thương của người nông dân trong xã hội cũ và phẩm chất cao quý tiềm tàng của họ. Đồng thời, truyện còn cho thấy tấm lòng yêu thương, trân trọng đối với người nông dân và tài năng nghệ thuật xuất sắc của nhà văn Nam Cao; đặc biệt trong việc miêu tả tâm lí nhân vật và cách kể chuyện.
  • Bố cục
    • Đoạn 1: “Hôm sau…cũng xong” → Lão Hạc kể chuyện bán chó và nhờ ông giáo hai việc…ông giáo an ủi lão Hạc
    • Đoạn 2: “Luôn mấy hôm…đáng buồn” → cuộc sống của Lão Hạc sau đó, thái độ của Binh Tư và ông giáo
    • Đoạn 3: “Không! Cuộc đời…một sào” → Cái chết của Lão Hạc

2. Đọc – hiểu văn bản

a. Nhân vật lão Hạc

Tâm trạng của lão Hạc xung quanh việc bán “cậu Vàng”

Tình cảm của lão Hạc đối với “cậu Vàng”:

  • Gọi con chó là cậu Vàng như một bà hiếm hoi gọi con cái
  • Bắt rận, đem ra ao tắm
  • Cho ăn cơm….cái bát như một nhà giàu
  • Nhắm vài miếng lại gắp cho nó một miếng
  • Chửi yêu, nói với nó như nói một đứa cháu “À không, ông không giết… ông nuôi”

→ Tình yêu tha thiết với loài vật, một người giàu tình cảm

Sau khi bán “cậu Vàng”

  • Lão cố làm ra vui vẻ, cười như mếu
  • Đôi mắt lão ầng ậng nước
  • Mặt … co rúm, vết nhăn xô lại, ép …nước mắt
  • Cái đầu ….ngoẹo, miệng móm mém…mếu
  •  Lão hu hu khóc
  • Từ tượng hình, từ tượng thanh → Tâm trạng đau khổ tột cùng
  • “Thì ra tôi già…lừa một con chó” → Thái độ chua chát, ngậm ngùi, mặc cảm là kẻ có tội

→ Lão Hạc là người sống tình nghĩa thủy chung, yêu thương loài vật; người cha có tình yêu thương con sâu sắc.

Việc làm của lão Hạc trước khi chết

  • Nhờ ông giáo:
    • Giữ hộ ba sào vườn cho con trai
    • Gửi 30 đồng để lo hộ đám tang cho mình
    • Duy trì cuộc sống: ăn khoai, củ chuối, sung luộc, rau má, củ ráy, bữa trai bữa ốc.
  • Từ chối mọi sự giúp đỡ gần như là hách dịch

→ Coi trọng bổn phận làm cha, coi trọng danh giá làm người.

Cái chết của lão Hạc

  • Nguyên nhân:
    • Tình cảnh đói khổ túng quẫn (đó cũng là số phận cơ cực đáng thương của những người dân nghèo trước CMT8)
    • Muốn bảo toàn căn nhà, mảnh vườn cho con; không muốn gây phiền hà cho hàng xóm láng giềng.
    • “…lão Hạc…vật vã, đầu tóc rũ rượi, quần áo xộc xệch, hai mắt long sòng sọc. lão tru tréo, bọt mép sùi ra…giật mạnh…lão vật vã đến hai giờ đồng hồ rồi mới chết”.→ cái chết dữ dội, bi thảm

⇒ Bộc lộ rõ số phận, nhân phẩm của người nông dân nghèo trước CMT8: nghèo khổ, bế tắc, cùng đường, giàu tình thương và lòng tự trọng. Qua đó, tố cáo mạnh mẽ sự tàn ác bất nhân của chế độ phong kiến

b. Nhân vật ông Giáo

Tình cảm đối với lão Hạc

  • “Tôi muốn ôm choàng lấy lão mà khóc”
  • Giữ hộ lão Hạc mảnh vườn và ba mươi đồng bạc
  • Giữ hộ lão Hạc mảnh vườn và ba mươi đồng bạc

⇒ Đồng cảm, xót thương cho hoàn cảnh lão Hạc, luôn tìm cách giúp đỡ, an ủi và tỏ lòng quý trọng nhân cách lão Hạc

Suy nghĩ của ông Giáo về cuộc đời

  • Khi nói chuyện với Binh Tư
    • “Cuộc đời quả thật cứ mỗi ngày một thêm đáng buồn”
      • Buồn vì: đói nghèo có thể đổi trắng thay đen, biến người lương thiện như lão Hạc trở thành kẻ trộm cắp như Binh Tư
      • Buồn vì: một con người như lão Hạc đành phải biến chất vì không còn tìm đâu ra miếng ăn tối thiểu hàng ngày
  • Khi chứng kiến lão Hạc chết
    • “Cuộc đời chưa hẳn đã đáng buồn”
      • Vì không có gì hủy hoại được nhân phẩm của người lương thiện như LH để ta có quyền hy vọng và tin tưởng ở con người.
    • “Hay vẫn đáng buồn theo một nghĩa khác”
      • Vì người tốt như lão Hạc mà hoàn toàn vô vọng, phải tìm đến cái chết như một sự giải thoát tự nguyện và bất đắc dĩ
  • Khi nói chuyện với vợ:
    • “Chao ôi! Đối với những người ở quanh ta, nếu ta không cố tìm mà hiểu họ…không bao giờ ta thương” → Đây là lời triết lý lẫn cảm xúc trữ tình xót xa.
      • Khẳng định một thái độ sống, một cách ứng xử mang tinh thần nhân đạo : Cần phải quan sát, suy nghĩ, nhìn nhận con người sống quanh mình bằng lòng đồng cảm, bằng đôi mắt của tình thương.
      • Nêu một phương pháp đúng đắn, sâu sắc khi đánh giá con người: phải biết đặt mình vào cảnh ngộ cụ thể của người khác thì mới hiểu và cảm thông đúng.

→ Ông giáo là người hiểu đời, hiểu người, chan chứa tình yêu thương và lòng nhân ái sâu sắc. Người trọng nhân cách không mất niềm tin vào những điều tốt đẹp của con người.

3. Tổng kết

a. Nội dung

  • Tác phẩm phản ánh hiện thực số phận người nông dân trước CMT8 qua tình cảnh của lão Hạc: nghèo túng, không có lối thoát, phải chọn cái chết để bảo toàn tài sản cho con và không phiền hà hàng xóm
  • Cảm thông, trân trọng, ngợi ca vẻ đẹp tiềm ẩn của người nông dân trong cảnh khốn cùng vẫn giàu lòng tự trọng.

b. Nghệ thuật

  • Sử dụng ngôi kể thứ nhất, người kể là nhân vật hiểu, chứng kiến toàn bộ câu chuyện và cảm thông với LH.
  • Nghệ thuật phân tích tâm lí già dặn, kể chuyện chân thực, màu sắc trữ tình đan xen triết lí sâu sắc.
  • Xây dựng được nhân vật có tính cá thể hóa cao