Bài 18: Ông đồ – Vũ Đình Liên

1. Tìm hiểu chung

a. Tác giả

  • Tên: Vũ Đình Liên (1913 – 1996), là một nhà thơ, nhà dịch thuật, nhà giáo.
  • Quê quán: quê ở Châu Khê, Bình Giang, Hải Dương.
  • Cuộc đời:
    • Nhiều năm ông làm nghề dạy học.
    • Từng là Chủ nhiệm khoa tiếng Pháp, Trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ, là thành viên nhóm văn học Lê Quý Đôn (gồm: Lê Thước, Trương Chính, Lê Trí Viễn…).
    • Thơ ông thường mang nặng lòng thương người và niềm hoài cổ.
  • Nhà thơ Vũ Đình Liên đã xuất bản: Đôi mắt (thơ, 1957); Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam (nghiên cứu, 1957); Nguyễn Đình Chiểu (nghiên cứu, 1957); Thơ Bô-đơ-le (dịch thuật, 1995).
  • Tập thơ Bô-đơ-le công trình 40 năm lao động dịch thuật say mê và nghiên cứu của ông đã được tặng thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam (1996).

b. Tác phẩm

  • Ông đồ là bài thơ thành công xuất sắc nhất của Vũ Đình Liên.

c. Bố cục

Bài thơ được chia làm 3 phần

  • Phần 1: Khổ 1, 2: Hình ảnh ông đồ xưa.
  • Phần 2: Khổ 3,4: Hình ảnh ông đồ thời suy tàn.
  • Phần 3: Khổ 5: Nỗi niềm của tác giả.

2. Đọc hiểu văn bản

a. Khổ 1, 2: Hình ảnh ông đồ thời xưa.

“Mỗi năm hoa đào nở…. người qua”

  • Tết đến, hoa đào nở, phố xá tưng bừng, người xe nườm nượp qua lại → một khung cảnh đông vui, nhộn nhịp, một bức tranh giàu màu sắc.

→ Ông đồ xuất hiện khi tết đến xuân về.

“Bao nhiêu người thuê viết. Tấm tắc ngợi khen tài”.

  • Ông là trung tâm chú ý, là đối tượng được mọi người ngưỡng mộ, tôn vinh.

→ Hình ảnh ông đồ thân quen hoà cùng cái đông vui, náo nức của phố phường ngày giáp Tết. Ông chính là một trong những nơi gặp gỡ, hội tụ của văn hoá – tâm linh người Việt một thời.

b. Khổ 3, 4: Ông đồ thời suy tàn

“Ông đồ vẫn ngồi đó…qua đường không ai hay”

  • Ông đồ “vẫn ngồi đấy”, giữa phố xá đông đúc người qua lại nhưng lẻ loi, lạc lõng, không ai biết, “không ai hay”.
  • Tác giả không miêu tả tâm trạng ông đồ, nhưng bằng biện pháp nhân hoá, hai câu thơ: “Giấy đỏ buồn không thắm – Mực đọng trong nghiên sầu”. Nỗi buồn tủi thấm đẫm lên cả những vật vô tri vô giác.
  • Ông đồ “ngồi đấy” chứng kiến và nếm trải tấn bi kịch của cả một thế hệ. Đó là sự tàn tạ, suy sụp hoàn toàn của nền Nho học.
  • Hình ảnh “lá vàng” lìa cành và “mưa bụi bay” trong trời đất mênh mang là những ẩn dụ độc đáo cho sự tàn tạ, sụp đổ đó.
  • Hai khổ thơ tả cảnh nhưng chính là để thể hiện nỗi lòng của người trong cảnh. Đó là nỗi xót xa lặng lẽ, nỗi đau đớn ngậm ngùi của lớp nhà nho buổi giao thời.

c. Khổ thơ cuối: Nỗi niềm của tác giả

  • Hoa đào vẫn nở, Tết vẫn đến, quy luật thiên nhiên vẫn tuần hoàn, nhưng người thì không thấy nữa: “Không thấy ông đồ xưa”.
  • Tứ thơ: cảnh cũ còn đó, người xưa ở đâu và hình ảnh “người muôn năm cũ” người đọc niềm cảm thương, tiếc nuối vô hạn.
  • “Người muôn năm cũ”, trước tiên là các thế hệ nhà nho và sau đó còn là “bao nhiêu người thuê viết” thời đó. Vì vậy, “hồn” ở đây vừa là hồn của các nhà nho, vừa là linh hồn của nét sinh hoạt văn hoá truyền thống tốt đẹp đã từng gắn bó thân thiết với đời sống của con người Việt Nam hàng trăm nghìn năm.
  • Hai câu cuối là câu hỏi nhưng không để hỏi mà như một lời tụ vấn. Dấu chấm hỏi đặt ở cuối bài thơ như rơi vào im lặng mênh mông nhưng từ đó dội lên bao nỗi niềm. Đó là nỗi day dứt, tiếc nhớ, thương xót ngậm ngùi của tác giả và cũng là của cả một thế hệ các nhà thơ mới. Đó còn là nỗi mong ước tìm lại, gặp lại vẻ đẹp của một thời đã qua.

3. Tổng kết

a. Nội dung

  • Cảm nhận được tình cảnh tàn tạ của nhân vật ông đồ, qua đó thấy được niềm cảm thương và nỗi nhớ tiếc của tác giả đối với cảnh cũ người xưa gắn liền với một nét đẹp văn hóa cổ truyền.

b. Nghệ thuật

  • Thể thơ ngũ ngôn vừa phù hợp với lối kể chuyện, vừa thích hợp để diễn tả tâm tình.
  • Kết cấu đầu cuối tương ứng chặt chẽ của bài thơ đã làm nổi bật chủ đề tác phẩm: quá trình tàn tạ, suy sụp của nền nho học.
  • Ngôn ngữ, hình ảnh trong sáng, bình dị nhưng hàm súc, đầy ám ảnh, giàu sức gợi.