Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu là khúc tráng ca bi thương, tôn vinh tinh thần chiến đấu quả cảm của những người nông dân yêu nước. Bằng ngôn ngữ giàu cảm xúc và hình ảnh chân thực, tác phẩm khắc họa sự hy sinh anh dũng của họ trước vận mệnh dân tộc.
Hãy cùng tìm hiểu bài văn tế để cảm nhận sâu sắc hơn ý nghĩa lịch sử và giá trị nhân văn mà tác giả muốn truyền tải qua nội dung bài Soạn văn 12 Cánh diều Văn tế nghĩa sĩ cần giuộc sau.
Chuẩn bị
Bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu là một tác phẩm bi tráng, thể hiện lòng yêu nước và tinh thần chiến đấu anh dũng của những nghĩa sĩ nông dân chống thực dân Pháp.
Kết cấu văn bản: Bài văn tế gồm bốn phần chính theo cấu trúc truyền thống của thể loại văn tế:
- Lung khởi: Mở đầu, giới thiệu bối cảnh lịch sử và nỗi đau mất nước.
- Thích thực: Ca ngợi tinh thần chiến đấu của nghĩa sĩ Cần Giuộc.
- Ai vãn: Bày tỏ niềm thương tiếc và đau xót trước sự hy sinh của họ.
- Kết: Khẳng định công lao và tinh thần bất khuất của nghĩa sĩ.
Hình ảnh người nghĩa sĩ:
- Là những nông dân chân chất, chưa từng quen chiến đấu nhưng vẫn dũng cảm đứng lên bảo vệ quê hương.
- Tác giả thể hiện niềm kính phục, tiếc thương và tự hào đối với sự hy sinh của họ.
Nghệ thuật nổi bật:
- Sử dụng ngôn ngữ bi tráng, giàu cảm xúc.
- Hình ảnh sinh động, chân thực, khắc họa rõ nét lòng yêu nước của nhân dân.
- Giọng điệu thống thiết, hào hùng, thể hiện niềm tiếc thương và ca ngợi những người anh hùng.
Chủ đề và cảm hứng chủ đạo:
- Ca ngợi tinh thần yêu nước, ý chí chiến đấu bất khuất của nhân dân Nam Bộ.
- Bày tỏ sự thương tiếc và tôn vinh những người nghĩa sĩ hy sinh vì dân tộc.
- Tác giả Nguyễn Đình Chiểu: Là nhà thơ yêu nước, suốt đời gắn bó với nhân dân, dùng văn chương để cổ vũ tinh thần đấu tranh chống ngoại xâm. Ông sáng tác Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc để tưởng nhớ những người nông dân nghĩa sĩ đã hy sinh trong cuộc khởi nghĩa chống Pháp năm 1861.
Đọc hiểu
Trả lời câu hỏi giữa bài
Câu 1 trang 113 sgk Ngữ văn 12 Tập 1
Hình ảnh những người nông dân nghĩa sĩ trong cuộc sống thường nhật hiện lên đầy giản dị, cơ cực:
- Họ là những người dân nghèo khổ, thuộc tầng lớp thấp trong xã hội, từ dân ấp, dân lân đến những người rời bỏ quê hương đi khai khẩn đất mới để kiếm sống.
- Cuộc sống vất vả, lầm lũi, đơn độc, không có điểm tựa, chỉ biết cặm cụi lao động để mưu sinh.
Câu 2 trang 114 sgk Ngữ văn 12 Tập 1
Trong chiến đấu, hình ảnh người nông dân nghĩa sĩ hiện lên đầy mạnh mẽ, quyết liệt và kiên cường:
- Hành động: Không màng hiểm nguy, họ xông pha nơi trận mạc với những hành động dũng mãnh như: đạp rào tiến tới, xô cửa lao vào, đâm ngang, chém ngược, xông lên không chút chần chừ.
- Tinh thần: Bất chấp súng đạn quân thù, họ không hề nao núng, coi giặc như không, chẳng sợ những làn đạn nhỏ, đạn to, sẵn sàng hi sinh mà không hề do dự.
Câu 3 trang 115 sgk Ngữ văn 12 Tập 1
Tiếng khóc trong bài văn tế không đơn thuần là nỗi xót thương mà còn hòa quyện nhiều tầng cảm xúc khác nhau:
- Nuối tiếc: Xót xa cho những số phận bình dị đã phải ngã xuống vì chiến tranh.
- Đau thương: Cảm nhận nỗi mất mát lớn lao khi những người dân vô tội phải hi sinh.
- Căm hờn: Phẫn uất trước sự tàn bạo của kẻ thù, trước cảnh chiến tranh khốc liệt.
- Cảm phục: Trân trọng sự hi sinh cao cả của những con người dũng cảm đã quên mình vì đất nước.
- Tự hào: Khẳng định tinh thần quật cường, ý chí kiên trung của người nông dân nghĩa sĩ.
Câu 4 trang 116 sgk Ngữ văn 12 Tập 1
Những người còn sống bày tỏ lòng tiếc thương sâu sắc đối với những nghĩa sĩ đã hi sinh vì đất nước. Họ không chỉ đau xót trước sự mất mát to lớn mà còn ghi nhớ công lao, tri ân những con người đã dũng cảm quên mình vì quê hương. Tâm nguyện của họ là mong linh hồn những người đã khuất được yên nghỉ, đồng thời tiếp nối tinh thần yêu nước để bảo vệ và xây dựng đất nước.
Trả lời câu hỏi cuối bài
Câu 1 trang 117 sgk Ngữ văn 12 Tập 1
Bố cục tác phẩm gồm 4 phần:
- Phần 1 – Lung khởi (Hỡi ôi … tiếng vang như mõ): Giới thiệu bối cảnh lịch sử và đề cao ý nghĩa sự hi sinh của những nghĩa sĩ nông dân.
- Phần 2 – Thích thực (Tiếp đến… tàu đồng súng nổ): Khắc họa chân dung người nghĩa sĩ từ cuộc sống bình dị, lam lũ đến khi trở thành những dũng sĩ anh dũng xông pha chiến trận.
- Phần 3 – Ai vãn (Tiếp đến … cơn bóng xế dật dờ trước ngõ): Bày tỏ niềm tiếc thương, đau xót nhưng cũng đầy cảm phục đối với sự hi sinh của những người nông dân nghĩa sĩ.
- Phần 4 – Kết (Còn lại): Ca ngợi tinh thần bất khuất và linh hồn bất tử của những người đã ngã xuống.
Câu 2 trang 117 sgk Ngữ văn 12 Tập 1
Trong đời sống thường ngày: Họ là những người nông dân chất phác, hiền lành, quanh năm gắn bó với ruộng đồng. Họ sống giản dị, mặc áo vải, chỉ quen với công việc cày cấy, chân lấm tay bùn, lo toan vì miếng cơm manh áo.
Khi đất nước bị xâm lược: Họ mang trong mình lòng yêu nước mãnh liệt. Từ những con người quen ruộng đồng, họ đứng lên cầm vũ khí, dù chưa từng trải qua binh nghiệp nhưng vẫn sẵn sàng chiến đấu với tinh thần “coi giặc cũng như không.”
Trong trận chiến chống quân xâm lược: Dù chỉ có vũ khí thô sơ, họ vẫn dũng cảm xông pha, chiến đấu quyết liệt, không ngại hi sinh. Hình ảnh của họ trở thành biểu tượng cho tinh thần quật cường của nhân dân trước kẻ thù.
Câu 3 trang 117 sgk Ngữ văn 12 Tập 1
Tiếng khóc của tác giả chất chứa nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau: niềm tiếc thương, sự xót xa trước cái chết của những nghĩa sĩ nông dân, sự căm hờn trước kẻ thù, nhưng đồng thời cũng là sự cảm phục và niềm tự hào về tinh thần chiến đấu kiên cường của họ.
Mặc dù mang nỗi xót xa, tiếng khóc trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc không hề bi lụy hay chìm trong u sầu tuyệt vọng. Ngược lại, nó còn vang lên đầy khí phách, thể hiện niềm tự hào về lòng yêu nước và sự hi sinh anh dũng của những người nghĩa sĩ.
Câu 4 trang 117 sgk Ngữ văn 12 Tập 1
Sử dụng từ ngữ mộc mạc, giản dị, mang đậm màu sắc địa phương Nam Bộ, tạo nên sự gần gũi và chân thực khi tái hiện hình ảnh người nông dân nghĩa sĩ.
Phép đối:
- Đối từ ngữ: trống kỳ >< trống giục, lướt tới >< xông vào, đâm ngang >< chém ngược, hè trước >< ó sau…
Đối ý:
- Ta: manh áo vải, ngọn tầm vông >< Địch: đạn nhỏ, đạn to, tàu sắt, tàu đồng
- Vũ khí thô sơ: rơm con cúi, lưỡi dao phay >< Thành quả chiến đấu: đốt xong nhà dạy đạo, chém rớt đầu quan hai
- Hình ảnh mang tính biểu tượng sâu sắc: súng giặc đất rền, lòng dân trời tỏ – thể hiện sự đối lập giữa sức mạnh quân giặc và ý chí kiên trung của nhân dân.
Biện pháp so sánh giàu sức gợi:
- Trông tin quan như trời hạn trông mưa – diễn tả sự mong ngóng cứu viện của nghĩa sĩ.
- Ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ – bộc lộ sự căm phẫn trước quân xâm lược.
- Giọng điệu linh hoạt: Khi hào hùng, mạnh mẽ lúc miêu tả tinh thần chiến đấu của nghĩa sĩ, khi bi thương, tiếc nuối lúc nói về sự hi sinh, nhưng trên tất cả vẫn là âm hưởng chủ đạo đầy bi tráng và tự hào.
Câu 5 trang 117 sgk Ngữ văn 12 Tập 1
Trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Nguyễn Đình Chiểu đã có một cái nhìn đầy mới mẻ và tiến bộ về người nông dân so với quan niệm truyền thống trong văn học trung đại:
Lần đầu tiên, người nông dân được tôn vinh là anh hùng dân tộc. Trước đây, văn học trung đại chủ yếu ca ngợi tầng lớp quan lại, trí thức, nhưng Nguyễn Đình Chiểu đã đề cao những người nông dân chân lấm tay bùn, dù nghèo khổ nhưng vẫn dũng cảm đứng lên bảo vệ đất nước.
Xây dựng hình tượng người nghĩa sĩ từ những hình ảnh đời thường. Không còn là những nhân vật lý tưởng hóa, họ hiện lên rất chân thực với cuộc sống vất vả, quanh năm chỉ quen với ruộng đồng, chưa từng cầm vũ khí.
Ngợi ca tinh thần yêu nước, sẵn sàng hi sinh của người dân lao động. Khi giặc đến, họ từ bỏ cuốc cày, tự trang bị những vũ khí thô sơ để chiến đấu, thể hiện khí phách quật cường, lòng yêu nước nồng nàn và tinh thần bất khuất của dân tộc.
=> Tác phẩm không chỉ là một bài văn tế bi tráng mà còn là bản anh hùng ca tôn vinh những con người bình dị nhưng vĩ đại trong lịch sử.
Câu 6 trang 117 sgk Ngữ văn 12 Tập 1
Từ bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, em hãy viết một đoạn văn (khoảng 10 – 12 dòng) chia sẻ suy nghĩ của mình về hai chữ “nhục” và “vinh” trong cuộc sống.
Trong cuộc sống, “nhục” và “vinh” là hai khái niệm đối lập, thể hiện sự đánh giá về danh dự và phẩm giá con người. Từ bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, ta thấy rằng vinh quang không chỉ nằm ở sự chiến thắng mà còn ở lòng yêu nước, tinh thần bất khuất của những người nông dân nghĩa sĩ. Họ dám đứng lên chiến đấu dù biết trước kết cục bi thương, nhưng cái chết của họ lại trở thành niềm tự hào cho dân tộc. Ngược lại, sống mà không có lý tưởng, không dám đấu tranh cho lẽ phải, đó mới là nỗi nhục lớn nhất. Như vậy, vinh quang không chỉ nằm ở chiến thắng vẻ vang, mà còn ở sự hy sinh cao cả vì nghĩa lớn, còn nỗi nhục là khi con người sống hèn nhát, ích kỷ, không dám đối diện với thử thách.
“Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” trong Soạn văn 12 Cánh diều là bản hùng ca về tinh thần yêu nước và sự hy sinh anh dũng. Nguyễn Đình Chiểu đã khắc họa hình ảnh những người nghĩa sĩ bình dị mà kiên cường, nhắc nhở chúng ta về lòng biết ơn và trách nhiệm giữ gìn những giá trị cao đẹp của dân tộc.