Vịnh khoa thi Hương – Trần Tế Xương

1. Tìm hiểu chung

a. Thể loại:

Thất ngôn bát cú đường luật

b. Chủ đề:

Phản ánh hiện thực đất nước và thể hiện tấm lòng của tác gia đối với nước nhà

c. Bố cục:

  • Hai câu thơ đầu: Giới thiệu khoa thi năm Đinh Dậu
  • Bốn câu thơ tiếp: Thực cảnh trường thi
  • Hai câu thơ cuối: Thái độ, tâm trạng của tác giả

2. Đọc – hiểu văn bản

a. Giới thiệu khoa thi năm Đinh Dậu

Nhà nước ba năm mở một khoa

Trường Nam thi lẫn với trường Hà

  • Như thường lệ, ba năm mở một khoa thi để chọn nhân tài, nhưng năm nay cách tổ chức lại trái với thường lệ “Trường Nam thi lẫn với trường Hà”. Với cách tổ chức thi cử như vậy, tác giả đã báo trước sự hỗn độn, ô hợp, nhốn nháo.
  • Hai chữ “nhà nước” đã nêu bật lên hiện thực của cảnh mất nước, mất chủ quyền
  • Từ “thi lẫn” diễn tả sự hỗn độn của trường thi. Tác giả đã dùng hình ảnh trường thi khái quát cả một hiện thực xã hội bấy giờ.

b. Cảnh trường thi:

Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ,

Ậm ọe quan trường miệng thét loa.

Lọng cắm rợp trời quan sứ đến,

Váy lê quyét đất mụ đầm ra.

  • Những nhân vật chính của trường thi bộc lộ sự nhếch nhác, rỗng tuếch
    • Sĩ tử: lôi thôi, vai đeo lọ
    • Quan trường: ậm ọe, thét loa
  • Không khí long trọng (lọng cắm rợp trời) lại để đón kẻ ngoại bang – kẻ quyết định số phận của trường thi, nền học vấn của nước nhà “quan sứ, mụ đầm” → châm biếm, đả kích
  • Thể hiện sự xót xa, mỉa mai (lọng cắm rợp trời >< váy lê quét đất) xen lẫn với xót xa, căm giận

c. Thái độ, tâm trạng của tác giả

Nhân tài đất Bắc nào ai đó,

Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà.

  • Câu thơ “Nhân tài đất Bắc nào ai đó?” vừa là lời kêu gọi, vừa là lời nói thẳng về sự thật của đất nước đã thôi thúc, thức tỉnh lương tâm, trách nhiệm của tầng lớp tri thức phong kiến bấy giờ
  • Sáu câu thơ trước, tác gỉ dùng giọng điệu mỉa mai, châm biếm nhưng đến hai câu thơ cuối, tác giả đã chuyển sang giọng điệu trữ tình để lay gọi, đánh thức lương tri mọi người → thấy sự nhục nhã của hoàn cảnh, của thân phận mà căm ghét bọn giặc ngoại bang. Nhắc nhở đừng quên nỗi nhục mất nước.

3. Tổng kết

a. Nội dung

  • Bài thơ cho ta thấy thái độ trọng danh dự và tâm sự lo nước thương đời của tác giả trước tình trạng thi cử trong buổi đầu chế độ thuộc địa nửa phong kiến

b. Nghệ thuật

  • Lựa chọn từ ngữ, âm thanh và nghệ thuật đảo trật tự cú pháp tinh tế, nhiều ý nghĩa
  • Nhân vật trữ tình tự nhận thức, bộc lộ thái độ châm biếm, hài hước.