Tương tư – Nguyễn Bính

1. Tìm hiểu chung

a. Tác giả

  • Cuộc đời
    • Nguyễn Bính tên khai sinh là Nguyễn Trọng Bính, còn lấy tên Nguyễn Bính Thuyết
    • Quê: làng Thiện vịnh, xã Đồng Đội, Vụ Bản, Nam Định.
    • Gia đình: nhà nho nghèo, mồ côi mẹ sớm.
    • 1945-1954: tham gia kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ.
    • 1954 tập kết ra Bắc, tham gia công tác văn nghệ và làm báo. Mất đột ngột 20.1.1966
  • Sự nghiệp
    • Làm thơ từ rất sớm, năm 1937, ông được giải thưởng Tự lực văn đoàn (tác phẩm Tâm hồn tôi)
    • Sáng tác nhiều thể loại: thơ, truyện thơ, chèo…
    • Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 2000.
    • Một số tác phẩm chính:
      • Tâm hồn tôi (1937)
      • Lỡ bước sang ngang (1940)
      • Mười hai bến nước (1942)
      • Truyện thơ Cây đàn tỳ bà (1944)
      • Gửi người vợ miền Nam (1955)
    • Đặc trưng hồn thơ:
      • Ông có sở trường ở thể thơ lục bát
      • Thể hiện sâu sắc nỗi bất an của một tâm hồn vốn thiết tha với những giá trị cổ truyền mà bấy giờ có thể bị mai một
      • Ông trở về đào sâu vào truyền thống dân gian nên đã đem đến cho mình vẻ đẹp “chân quê”. Cảnh sắc và bóng dáng con người trong thơ ông đều thắm đượm tình quê, duyên quê và phảng phất hồn xưa đất nước. Hồn xưa ấy là sự hòa điệu của nhiều yếu tố thuộc cả nội dung và hình thức, nhưng nổi bật vẫn là sự hòa điệu giữa giọng quê với lối nói quê và lời quê.

b. Tác phẩm

  • Trích từ tác phẩm “Lỡ bước sang ngang”
  • Thể thơ: Thơ lục bát truyền thống
  • Bố cục:
    • 4 câu đầu: khái quát nỗi lòng tương tư
    • 12 câu tiếp: Những trạng thái của tương tư
    • 4 câu cuối: ước vọng tình yêu xa xôi

2. Đọc – hiểu văn bản

a. khái quát nỗi lòng tương tư

“Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông

Một người chín nhớ mười mong một người

Gió mưa là bênh của giời

Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”

  • Mở đầu bài thơ bằng hình ảnh hoán dụ “thôn Đoài, thôn Đông” → đôi trai gái, hình ảnh mang dáng dấp đồng quê mộc mạc.
  • “Một người chín nhớ mười thương một người” → Điệp ngữ “một người” đứng ở hai đầu câu thơ, diễn tả sự xa cách, nhớ mong
  • Thành ngữ “chín nhớ mười mong” → Sự mong nhớ da diết, bệnh nhớ thương của một người dành cho một người
  • Tâm trạng của người tình đơn phương cũng được mở ra với trời đất: (“Gió mưa là bệnh của giời,/Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”.) → Sự liên tưởng độc đáo, bất ngờ. ⇒ Nhà thơ sử dụng những hiện tượng vốn có của thiên nhiên để nói lên quy luật tất yếu của tình yêu: tương tư là lẽ dĩ nhiên, điều tất yếu của tình yêu.

b. Những trạng thái của tương tư

Hai thôn chung lại một làng
Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?

Ngày qua ngày lại qua ngày,

Lá xang nhuộm đã thành cây lá vàng.

Bảo rằng cách trở đò giang,

Không sang là chẳng đường sang đã đành.

Nhưng đây cách một đầu đình,

Có xa xôi mấy mà tình xa xôi…

Tương tư thức mấy đêm rồi,

Biết cho ai, hỏi ai người biết cho!

Bao giờ bến mới gặp đò?

Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau?”.

Băn khoăn hờn dỗi

  • Câu hỏi tu từ với cặp từ song đôi “hai thôn – một làng”, “bên ấy – bên này” → không gian xích lại gần nhau.
  • Cùng một không gian:
    • Khi kể nỗi lòng mình: dài ra, vô tận.
    • Khi trách móc: thu hẹp khoảng cách đến kệt cùng “Hai thôn chung lại một đàng” → Điều vô lý dễ thương của kẻ tương tư.
  • Trái với quy luật thông thường “bên ấy chẳng qua bên này” → cái tôi nhút nhát, chân quê. → Không gian không xa mà tình ý lại xa.

Than thở

  • Nhà thơ kể lể về thời gian “ngày qua ngày lại qua ngày”
  • Nhịp thơ 2/2/2 chuyển thành 3/3, ý và lời vế sau lặp lại vế trước (lặp vế câu) khiến chữ “lại”tạo thanh điểm nhấn.
  • Chữ “ngày” lặp lại 3 lần, nhấn mạnh đơn vị thời gian: chủ thể đang đếm từng ngày.

→ dòng thời gian trôi qua chậm chạp, chán ngán, vô vọng → lời than thở kể lể ngán ngẩm.

  • Nỗi nhớ vàng vọt cả lá xanh →Quy luật tình cảm: Thời gian càng chậm, tâm trạng càng nặng nề, tâm trạng càng mòn mỏi, trông ngóng, thời gian càng lê thê.
  • Chữ “nhuộm”
    • Thể hiện được thời gian chậm chạp: Thời gian dài đến mức đủ để màu lá chuyển hẳn sang màu khác.
    • Động từ ngoại động + để ngỏ chủ thể: tương tư khiến lòng người héo hon, nhuộm cây héo úa, giữa cây và người có mối tương giao kì lạ → cây vừa là nhân chứng của mối tương tư, vừa là đồng minh của kẻ tương tư, cũng là nạn nhân của nỗi tương tư

→ Cách diễn tả thời gian và tâm trạng thật tinh tế và ý nhị.

Hờn trách

  • Lời trách móc như quy kết, làm cho đối tượng khó chạy tội “Bảo rằng…xa xôi”
  • Nhà thơ phủ định tất cả: không xa, không cách trở, vậy mà người ấy không sang à lời buộc tội thật dễ thương.
  • Điệp từ phiềm chỉ “ai” tạo âm hưởng trùng điệp, não lòng: trạng thái quen thuộc của tương tư: suy tư, sầu muộn đến không ngủ được → vừa trách nhớ, vừa ngẩn ngơ chờ đợi
  • Trách vì yêu: Do quá mong nhớ, tưởng mình bị hờ hững sinh ra hờn ngược trách xuôi àmột kiểu bày tỏ tình cảm.

Nôn nao mơ tưởng

  • Câu hỏi tu từ “bao giờ…” → sự nôn nao, mong muốn được gặp gỡ.
  • Hình ảnh quen thuộc “bến – đò”“hoa khuê các – bướm giang hồ”: những hình ảnh vốn ở trạng thái gần gũi, gắn bó → Sự gặp gỡ đó chính là niềm mơ ước của tình yêu đôi lứa.

c. ước vọng tình yêu xa xôi

” Nhà em có một giàn giầu,

Nhà anh có một hàng cau liên phòng.

Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông,

Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn ào?

  • “Có một”, “nhà anh”, “nhà em”: sự lẻ loi đơn chiếc, anh và em vẫn chưa hòa làm một → Vẫn luôn ước mong hạnh phúc
  • Logic câu thơ khiến người đọc không thể nghĩ khác được “Thôn Đoài…thôn nào” → kín đáo mà duyên dáng, tinh tế.
  • Bài thơ xuất hiện nhiều cặp đôi tương ứng, nhưng kết thúc là cặp đôi “trầu – cau” → khao khát về một nhân duyên lâu bềnà chất truyền thống, dân quê của Nguyễn Bính

3. Tổng kết

a. Nội dung

  • Ngợi ca vẻ đẹp của một tình yêu chân quê thuần phác

b. Nghệ thuật

  • Thể thơ lục bát quen thuộc
  • Hình ảnh và ngôn từ dân dã
  • Cách ví von, giọng điệu và hồn thơ trữ tình dân gian