Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân

Ví dụ

Bài tập 1: Hãy tìm hiểu xem tác giả đã sử dụng những yếu tố ngôn ngữ và những quy tắc ngôn ngữ nào để tạo câu?

“NếuTổ quốc hôm nay nhìn từ biển

Mẹ Âu Cơ hẳn không thể yên lòng”

(Tổ Quốc nhìn từ biển – Nguyễn Việt Chiến)

  • Các yếu tố chung của ngôn ngữ: Âm (nguyên âm, phụ âm); các thanh (ngang, huyền, hỏi , ngã, nặng); các tiếng; các từ, các ngữ….
  • Các quy tắc chung, phương thức chung: Quy tắc cấu tạo kiểu câu (câu đơn, câu ghép) và phương thức chuyển nghĩa của từ: Nghĩa gốc sang nghĩa bóng

Bài tập 2: Hãy tìm hiểu những dấu ấn cá nhân được biểu hiện qua những phương diện của ngôn ngữ chung sau:

  • Cùng một nội dung nhưng tùy vào mỗi người lại có các cách xưng hô khác nhau, cách dùng từ khác nhau  (tao – mày, ban – mình, cậu – tớ hay vô – vào, cha – bố,….) ⇒ Vốn từ ngữ cá nhân phụ thuộc vào lứa tuổi, nghê nghiệp, lối sống, địa phương…
  • Cùng một câu nói, chung về hình thức chữ và nghĩa nhưng khi hai người nói câu đó thì ta có thể biết được người nào nói ⇒ Giọng nói cá nhân cũng là một phương diện thể hiện lời nói là sản phẩm riêng của cá nhân.
  • Việc tách những câu thơ thành những câu thơ nhỏ và không theo nguyên tắc chung và phương thức chung nhằm tạo nên cảm xúc như khổ thơ sau:

Anh đứng gác. Trời khuya. Đảo vắng

Biển một bên và em một bên.

Vòm trời kia có thể sẽ không em

Không biển nữa. Chỉ con anh với cỏ

(Chút thơ tình người lính biển – Trần Đăng Khoa)

​⇒ Vận dụng linh hoạt sáng tạo quy tắc chung, phương thức chung.

  • Việc tách từ, tạo từ, kết hợp từ một cách sáng tạo để tạo nên những nét nghĩa mới nhấn mạnh cảm xúc, ước muốn của nhân vật trữ tình, từ đó bộc lộ khao khát và cá tính rất riêng của tác giả.

Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi

⇒ Sự chuyển đổi sáng tạo khi sử dụng từ ngữ chung, quen thuộc.