Soạn bài Lưu biệt khi xuất dương – Phan Bội Châu

1.Tóm tắt nội dung bài học

a. Nội dung

  • Bài thơ khắc họa vẻ đẹp lãng mạn hào hùng của nhà chí sĩ cách mạng những năm đầu thế kỉ XX, với lý tưởng cứu nước cao cả, nhiệt huyết sôi sục, tư thế và khát vọng lên đường cháy bỏng trong buổi đầu ra đi tìm đường cứu nước.

b. Nghệ thuật:

  • Ngôn ngữ khoáng đạt, hình ảnh kì vĩ sánh ngang tầm vũ trụ
  • Giọng thơ tâm huyết sây lắng mà sôi sục, hào hùng
  • Các động từ mạnh, cách ngắt nhịp dứt khoát, câu khẳng định, từ tình thái → lời thơ rắn rỏi, cảm xúc mãnh liệt

2. Hướng dẫn học bài

Câu 1: Đọc tiểu dẫn, chú ý bối cảnh lịch sử đất nước và những ảnh hưởng từ nước ngoài để hiểu bài thơ

  • Bối cảnh lịch sử đất nước và những ảnh hưởng từ nước ngoài
    • Bối cảnh lịch sử đất nước:
      • Vào đầu những năm cuối thế kỉ XIX, tình hình chính trị trong nước hết sức đen tối:
      • Chủ quyến đất nước mất hoàn toàn vào tay giặc
      • Phong trào Cần Vương thất bại
      • Chế độ phong kiến suy sụp, kéo theo đó là sự sụp đổ cả một hệ tư tưởng phong kiến già cỗi, bất lực
    • Những ảnh hưởng từ nước ngoài:
      • Ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ tư sản từ nước ngoài tràn vào Việt Nam ngày càng mạnh qua con đường Trung Hoa, Nhật Bản và trực tiếp là từ Pháp, từ các nước phương Tây.

Câu 2: Tư duy mới mẻ, táo bạo và khát vọng hành động của nhà chí sĩ cách mạng trong buổi ra đi tìm đường cứu nước được biểu lộ như thế nào?

Dựa trên cảm xúc của tác giả về những hình ảnh nghệ thuật trong bài thơ, chú ý tìm hiểu các vấn đề sau:

  • Quan niệm mới về chí làm trai và tư thế, tầm vóc của con người trong vũ trụ
    • Bài thơ mở đầu bằng hai câu thơ nói lên cái “chí làm trai”?Làm trai phải lạ ở trên đời,/ Há để càn khôn tự chuyển dời.)
      • Do tư tưởng “trọng nam khinh nữ” trong xã hội phong kiến, “chí làm trai” chỉ dành riêng cho các bậc trượng phu, các đấng mày râu, không bao hàm phụ nữ. Hai câu thơ khẳng định một lẽ sống đẹp của bậc trượng phu. “Phải lạ” nghĩa là phải biết sống cho phi thường, hiển hách, phải dám mưu đồ những việc kinh thiên, động địa, xoay chuyền “càn khôn”, chứ không thể sống tầm thường, tẻ nhạt, buông xuôi theo số phận, chịu để con tạo xoay vần.
      • Cảm hứng và ý thơ của Phan Bội Châu gần gũi với lí tưởng nhân sinh của các nhà nho thuở trước (Phạm Ngũ Lão: Công danh nam tử còn vương nợ; Nguyễn Công Trứ: Chí làm trai nam, bắc, đông, tây – Cho phí sức vẫy vùng trong bốn bể), nhưng nó táo bạo hơn, quyết liệt hơn. Con người dám đối mặt với cả trời đất (càn khôn), cả vũ trụ để tự khẳng định mình, vượt hẳn lên cái mộng công danh gắn với hai chữ hiếu, trung để vươn tới những lí tưởng nhân quần, xã hội rộng lớn và cao cả hơn nhiều. Lí tưởng sống ấy đã tạo cho con người một tư thế mới, sánh ngang tầm vũ trụ.
  • Ý thức trách nhiệm cá nhân trước thời cuộc
    • Hai câu thực kế tiếp triển khai cụ thể tư tưởng về “chí làm trai” gắn với ý thức về cái “tôi”, nhưng không phải về cái “tôi” cá nhân mà là một cái “tôi” công dân đầy tinh thần trách nhiệm trước cuộc đời: (Trong khoảng trăm năm cần có tớ,/ Sau nay muôn thuở, há không ai?)
    • Cuộc thế trăm năm này cần phải có ta, không phải là để hưởng lạc thú mà là để cống hiến cho đời, để đáng mặt nam nhi, để lưu danh thiên cổ. Câu thơ thứ nhất khẳng định dứt khoát, đến câu thứ hai, tác giả chuyển sang giọng nghi vấn, nhưng cũng để nhầm khẳng định quyết liệt hơn một khát vọng sống hiển hách, phát huy hết tài năng và chí khí cống hiến cho đời, để tên tuổi còn lại mãi mãi về sau. Ý thơ được tăng cấp lên, đồng thời thêm giọng khuyến khích, giục giã.
    • Trong những năm đầu thế kỉ XX, sau những thất bại liên tiếp của các phong trào đấu tranh vũ trang chống thực dân Pháp, một nỗi thất vọng, bi quan đang đè nặng lên tâm hồn những người Việt Nam yêu nước. Tâm lí buông xuôi, an phận, cam chịu cảnh “cá chậu chim lồng” trong một số bộ phận nhân sĩ không phải không có. Chính bởi thế mà Phan Bội Châu muốn rung lên một hồi chuông để đánh thức tỉnh mọi người, giục gọi thế hệ của mình tiếp tục con đường tranh đấu.
    • Câu thơ giàu cảm hứng lãng mạn bay bổng gắn với hình tượng nghệ thuật kì vĩ, trường tồn: đất trời cao rộng (càng khôn), cuộc nhân sinh một đời người (trong khoảng trăm năm) và cả tương lai nối dài phía sau (sau này muôn thuở), càng làm tăng đến vô cùng sức mạnh của khát vọng và niềm tin.
  • Thái độ quyết liệt trước tình cảnh đất nước và những tín điều xưa cũ (Non sông đã chết, sống thêm nhục,/ Hiền thánh còn đâu, học cũng hoài!)
    • Câu 5 nói lên nỗi nhục mất nước, nỗi xót đau đốt cháy tâm can nhà thơ (non sông đã chết), đồng thời cũng khẳng định ý chí thép gang của những con người không cam chịu sống cuộc đời nô lệ đắng cay (Non sông đã chết, sống thêm nhục). Ý chí ấy gần gũi với tư tưởng yêu nước, với ý chí của người nghĩa sĩ nông dân trong thơ của Nguyễn Đình Chiểu. Nhưng đến câu 6 thì tư tưởng của Phan Bội Châu đã vượt  hẳn lên, mang những sắc thái mới của tư tưởng thời đại.
    • Phan Bội Châu đã dám đối mặt với cả nến học vấn cũ để nhận thức một chân lí: sách vở thánh hiền chẳng giúp ích gì trong buổi nước mất nhà tan, nếu cứ khư khư ôm giữ lấy thì chỉ là ngu (tụng diệc si) mà thôi. Tất nhiên, Phan Bội Châu không phủ nhận cả nền học vấn Nho giáo, nhưng có được một ý tưởng như thế đã là hết sức táo bạo đối với một con người từng là môn đồ của nơi “cửa Khổng sân Trình” rồi.
  • Khát vọng hành động và tư thế buổi lên đường (Muốn vượt biển Đông theo cánh gió/ Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi)
    • Hình ảnh kì vĩ lớn lao “biển Đông”“cánh gió” muôn trùng “sóng bạc” tương ứng với hành động cao cả, tầm vóc phi thường của Phan Bội Châu.
    • Thể hiện khát vọng lên đường có một sức mạnh, khơi dậy nhiệt huyết của cả một thế hệ.

Câu 3: Anh (chị) có nhận xét gì về hai câu 6 và 8 của bản dịch thơ so với nguyên tác (đối chiếu với phần dịch nghĩa)?

  • Nhận xét gì về hai câu 6 và 8 của bản dịch thơ so với nguyên tác:
    • Câu 6:
      • Nguyên tác: “Nguyện trục trường phong Đông hải khứ”: Mong muốn đuổi theo ngọn gió dài đi qua biển Đông.
      • Câu dịch thơ lại là: “Muốn vượt bể Đông theo cánh gió“: đạp bằng gian khó để đạt được ước nguyện giải phóng dân tộc.
      • Như vậy, câu thơ dịch chỉ chú ý đến “vượt bể Đông” mà không chú trọng đến ý thơ thể hiện được nhà thơ ý thức được gian khó: ý thức được gian khó nhưng vẫn khao khát vượt qua “đuổi theo” → làm mất đi đôi chút lớn lao, mạnh mẽ, can trường của nhân vật trữ tình.
    • Câu 8:
      • Nguyên tác: “Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi”: ngàn đợt sóng bạc cùng bay lên.
      • Câu thơ dịch là: “Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi”.
      • Như vậy, câu thơ dịch làm mất đi cái kì vĩ, hào sảng của hình ảnh “nhất tề phi” – “cùng bay lên”đầy lãng mạn, hùng tráng.

Câu 4: Theo anh (chị), những yếu tố nào đã tạo nên sức lôi cuốn mạnh mẽ của bài thơ này?

  • Những yếu tố đã tạo nên sức lôi cuốn mạnh mẽ của bài thơ:
    • Khát vọng sống hào hùng, mãnh liệt của nhân vật trữ tình.
    • Tư thế con người kì vĩ, đầy lãng mạn, sánh ngang cùng vũ trụ.
    • Khí phách ngang tàng, dám đương đầu với mọi thử thách.
    • Giọng thơ tâm huyết, sâu lắng mà sục sôi, hào hùng.
    • Tư tưởng đổi mới táo bạo, đi tiên phong cho thời đại
    • Lòng yêu nước cháy bỏng và ý thức về lẽ vinh nhục

3. Luyện tập

  • Viết một đoạn văn trình bày những cảm nhận của anh (chị) về hình ảnh nghệ thuật ở hai câu thơ cuối bài.

Gợi ý trả lời

  • Các em có thể tham khảo gợi ý dưới đây:
    • Những hình ảnh kì vĩ, lớn lao: “Biển Đông”“Cánh gió”“muôn tùng sóng bạc”, phù hợp với hành động cao cả, tầm vóc phi thường của chủ thể trữ tình.
    • Câu thơ cuối dịch nghĩa là “Ngàn đợt sóng bạc cùng bay lên” là một hình ảnh hào hùng lãng mạn. Sóng của biển cả hay nhiệt huyết cứu nước dân trào chắp cánh cho ý chí vượt đại dương tìm đường cứu nước thêm phần hăm hở, tự tin. Tư thế và khát vọng lên đường của chủ thể trữ tình ở hai câu kết có một sức truyền cảm mạnh mẽ. Phan Bội Châu đã từ bài thơ này mà khơi gợi được nhiệt huyết của cả một thế hệ.