Soạn bài Hầu trời – Tản Đà

1. Tóm tắt nội dung bài học

a. Nội dung

  • Tản Đà đã tự biểu hiện “cái tôi” cá nhân, một cái tôi “ngông”, phóng túng, tự ý thức về tài năng, giá trị đích thực của mình và khao khát được khẳng định mình giữa cuộc đời.

b. Nghệ thuật

  • Sáng tạo trong thể thơ trường thiên khá tự do, giọng điệu tự nhiên, thoải mái, ngôn ngữ sống động
  • Ngôn ngữ thơ chọn lọc tinh tế, gợi cảm, gần với đời thường
  • Cách kể chuyện hóm hỉnh, có duyên, lôi cuốn người đọc
  • Tác giả hiện diện trong bài thơ với tư cách người kể chuyện đồng thời là nhân vật chính → cảm xúc biểu hiện phóng túng, tự do

2. Hướng dẫn học bài:

Câu 1: Anh (chị) hãy phân tích khổ thơ đầu. Cách vào đề của bài thơ gợi cho người đọc cảm giác như thế nào về câu chuyện mà tác giả sắp kể?

  • Phân tích khổ thơ đầu:
    • Câu thơ đầu tiên đã tạo ra một không khí nửa hư nửa thực để gây được ở người đọc một mối nghi vấn nhằm gợi trí tò mò: Đêm qua chẳng biết có hay không, Chuyện có vẻ như mộng mơ, như bịa đặt, chẳng biết có hay không, nhưng dường như lại là thật, thật hoàn toàn bởi tác giả đã bồi đắp ba câu thơ bằng những lời khẳng định chắc như đinh đóng cột, nhắc đi nhắc lại bốn lần chữ “thật”với nhịp thơ dồn dập ngăn cách bằng những dấu cảm thán như để củng cố thêm niềm tin: Chẳng phải hoảng hốt, không mơ mòng. Thật hồn ! Thật phách ! Thật thân thể ! Thật được lên tiên – sướng lạ lùng.
    • Như vậy, ba câu thơ dường như muốn nói không còn điều gì phải nghi ngờ nữa. Cái bàng hoàng vì lạ lùng, đột ngột bị át đi bởi cái sướng lạ lùng vì được lên Trời, gặp tiên.
  • Cách vào đề của bài thơ gợi cho người đọc cảm giác: câu chuyện mà tác giả sẽ kể có sức hấp dẫn đặc biệt, không ai có thể bỏ qua. → Như vậy, cách vào chuyện thật độc đáo và có duyên, tạo được sự tò mò, chú ý cuốn hút người đọc về câu chuyện lên tiên của mình.

Câu 2: Tác giả đã kể lại chuyện mình đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe như thế nào? (Thái độ của tác giả, của chư tiên và những lời khen của Trời.) Qua đoạn thơ đó, anh (chị) cảm nhận được những điều gì về cá tính nhà thơ và niềm khao khát chân thành của thi sĩ? Nhận xét về giọng kể của tác giả.

  • Tác giả đã kể lại chuyện mình đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe:
    • Thái độ của thi nhân khi đọc thơ:
      • Thi nhân đọc thơ một cách cao hứng và có phần tự đắc, kể tường tận từng chi tiết về các tác phẩm của mình.
      • Giọng đọc thơ của thi nhân vừa truyền cảm, vừa hóm hỉnh, vừa sảng khoái, cuốn hút người nghe.
    • Thái độ của người nghe thơ:
      • Thái độ của Trời: Khen nhiệt thành
      • Thái độ của Chư Tiên:  xúc động, tán thưởng và hâm mộ

→ Thái độ của Trời và Chư Tiên khi nghe thơ đã tỏ ra rất thích thú và ngưỡng mộ tài năng thơ ca của thi nhân.

Câu 3: Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là cảm hứng lãng mạn, nhưng trong bài lại có một đoạn rất hiện thực. Đó là đoạn thơ nào? Tìm hiểu ý nghĩa đoạn thơ đó. Theo anh (chị), hai nguồn cảm hứng này ở thi sĩ tản Đà có mối liên hệ với nhau như thế nào?

  • Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là cảm hứng lãng mạn, nhưng trong bài lại có một đoạn rất hiện thực. Đó là đoạn thơ

“Bẩm Trời, cảnh con thực nghèo khó

Trần gian thước đất cũng không có

[…]

Sức trong non yếu ngoài chen rấp

Một cây che chống bốn năm chiều”.

  • Ý nghĩa đoạn thơ đó:
    • Ở đoạn thơ này, nhà thơ nói đến nhiệm vụ truyền bá “thiên lương”. Điều đó chứng tỏ, Tản Đà lãng mạn, nhưng không hoàn toàn thoát li cuộc đời, ông vẫn ý thức về trách nhiệm với đời và khát khao được gánh vác việc đời. Đó cũng là một cách khẳng định mình.
    • Có những câu thơ vẽ lên một bức tranh chân thực về chính cuộc đời nhà thơ và cuộc đời của nhiều văn sĩ khác lúc đó. Đó là cuộc sống hết sức cơ cực, tủi hổ (không tấc đất cắm dùi, thân phận bị rẻ rúng, làm chẳng đủ ăn, bị o ép nhiéu chiều,…). Những câu thơ không hề cường điệu. Đó thậm chí chính là cuộc sống đầy xót xa của thi sĩ Tản Đà. Là một thi sĩ nổi tiếng tài hoa, thế nhưng gần như suốt đời, Tản Đà sống trong nghèo khổ, túng quẫn. Ông đã từng rơi vào cảnh:

Hôm qua chửa có tiền nhà

Suốt đêm thơ nghĩ chẳng ra câu nào

Đi ra rồi lại đi vào

Quẩn quanh chỉ tốn thuốc lào vì thơ

  • Về cuối đời, Tản Đà thậm chí phải mở cửa hàng xem tướng số để kiếm ăn nhưng không có khách, mở lớp dạy Hán văn và quốc văn nhưng không có học trò. Cuối cùng, ông chết trong cảnh nghèo đói, nhà cửa, đồ đạc bị chủ nợ tịch biên, chỉ còn một cái giường mọt, cái ghế ba chân, chồng sách nát và một be rượu.
  • Bức tranh hiện thực miêu tả trong bài thơ đã giúp chúng ta thêm hiểu vì sao Tản Đà thấy đời đáng chán (Trần thế nay em chán nửa vờí), vì sao ông phải tìm cõi tri âm tận trời cao (Tri kỉ trông lên đứng tận trời), phải tìm đến Hằng Nga, Ngọc Hoàng Thượng đế, chư tiên,… để thoả niềm khao khát. Hai nguồn cảm hứng lãng mạn và hiện thực thường đan cài khăng khít trong thơ ông như thế..

Câu 4:  Về mặt nghệ thuật, bài thơ này có gì mới và hay? (Chú ý các mặt: thể loại, ngôn từ, cách biểu hiện cảm xúc, hư cấu nghệ thuật,…)

  • Bài thơ có nhiều sáng tạo trong hình thức nghệ thuật, với những dấu hiệu đổi mới theo hướng hiện đại.
    • Thể thơ thất ngôn trường thiên khá tự do, không bị ràng buộc bởi khuôn mẫu kết cấu nào, nguồn cảm xúc được bộc lộ thoải mái, tự nhiên, phóng túng.
    • Ngôn ngữ thơ chọn lọc, tinh tế, gợi cảm và rất gần với đời, không cách điệu, ước lệ.
    • Cách kể chuyện hóm hỉnh, có duyên, lôi cuốn được người đọc.
    • Tác giả tự hiện diện trong bài thơ với tư cách người kể chuyện, đồng thời là nhân vật chính. Cảm xúc biểu hiện phóng túng, tự do, không hề gò ép.

3. Hướng dẫn luyện tập

Câu 1: Bài Hầu trời có ý tưởng gì hoặc câu thơ nào làm cho anh (chị) thích thú nhất? Hãy viết một đoạn văn trình bày cảm xúc của mình.

Câu 2*: Anh (chị) hiểu thế nào là “ngông”? Cái “ngông” trong văn chương thường bộc lộ một thái độ sống như thế nào? (Có thể dẫn chứng qua những tác phẩm đã học.) Cái “ngông” của thi sĩ Tản Đà trong bài thơ này biểu hiện ở những điểm nào và có thể giải thích ra sao?

Gợi ý trả lời

Câu 1: Các em có lụa chọn ý tưởng, câu thơ theo suy nghĩ, cảm xúc của bản thân.

  • Chú ý: Các em nên chọn vấn đề, câu thơ mà mình cảm thấy tâm đắc, trình bày suy nghĩ của mình một các mạch lạc và thể hiện những ý tưởng mà bản thân cảm thấy thú vị….

Câu 2:

  • “Ngông” chỉ sự khác thường. “Ngông” trong văn chương dùng để chỉ một kiểu ứng xử xã hội và nghệ thuật khác thói thường có ở nhà văn, nhà thơ có ý thức cá nhân cao độ. (Trong văn chương người ta hay nhắc đến cái “ngông” của Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Tuân, Tản Đà, …)
  • Cái “Ngông” của Tản Đà trong bài thơ này biểu hiện ở những điểm:
    • Tự cho mình văn hay đến mức Trời cũng phải tán thưởng.
    • Không thấy ai đáng là tri âm với mình ngoài Trời và Chư tiên.
    • Xem mình là một “trích tiên” bị “đày xuống hạ giới vì tội ngông”.
    • Nhận mình là người nhà Trời xuống hạ giới thực hành “Thiên lương”, một sứ mệnh cao cả.
    • Xem các đấng siêu nhiên là tri âm, bình dân, … .