Hai đứa trẻ – Thạch Lam

1. Tìm hiểu chung

a. Tác giả

  • Thạch Lam (1910-1942)
  • Xuất thân trong một gia đình có truyền thống văn chương.
  • Là thành viên của Tự lực văn đoàn nhưng văn chương Thạch Lam đi theo hướng riêng: viết về những người lao động cơ cực, bế tắc với tấm lòng thương cảm sâu sắc.
  • Thạch Lam sở trường về truyện ngắn – truyện không có cốt truyện mà thiên về tâm trạng, giàu chất thơ. Nhân vật của Thạch Lam là nhân vật của cảm xúc, tâm trạng nhiều hơn là tư duy.
  • Có quan điểm nghệ thuật tiến bộ, lành mạnh.
  • Ông sáng tác nhiều tác phẩm có giá trị: “Gió đầu mùa“; “Nắng trong vườn“; “Sợi tóc“; … và là cây bút phê bình văn học xuất sắc.

b. Tác phẩm

  • Xuất xứ: Rút từ tập “Nắng trong vườn
  • Cảm nhận chung: Thông qua bức tranh phố huyện nghèo, nhà văn đã bày tỏ niềm cảm thông sâu sắc trước cuộc sống nghèo khổ tăm tối, bế tắc của nhân dân ta trước cách mạng. Đồng thời ông đã bộc lộ niềm trân trọng đối với niềm hy vọng dẫu rất mong manh của họ.
  • Nghệ thuật: Truyện không có cốt truyện, kết hợp hai yếu tố hiện thực và lãng mạn trữ tình

2. Đọc- hiểu văn bản

a. Bức tranh phố huyện

  • Cảnh ngày tàn, chợ tàn:
    • Tiếng trống thu không: thứ âm thanh chất chứa nỗi niềm của con người -> tiếng trống vang xa gọi chiều về và gợi cả nỗi niềm xao xác -> điểm nhịp cho cuộc sống nặng nề trôi.
    • Làm nền cho tiếng trống là “bản nhạc dân dã” quen thuộc, buồn bã, rên rĩ của côn trùng, ếch nhái, muỗi, tiếng đàn bầu rời rạc

⇒ Không đủ sức khuấy động không khí lặng lẽ, tù đọng của phố huyện.

  • Thời gian: “Chiều, chiều rồi. Một chiều êm ả như ru…” , “bóng tối ngập dần…. giờ khắc ngày tàn” – “Trời nhá nhem tối“, “Trời bắt đầu đêm…“,”Đêm tối“.

⇒ Tác giả miêu tả bước đi của thời gian rất cụ thể, tỉ mỉ, chi tiết -> thời gian có sự vận động: chậm rãi, lặng lẽ -> nhịp sống buồn bã, tẻ nhạt của phố huyện từ chiều tàn đi dần vào đêm khuya.

  • Không gian: thu hẹp dần: quang cảnh phố huyện nhỏ bé, một phiên chợ tàn, góc chợ đơn sơ-> yên tĩnh, tù túng, chật hẹp.
Bóng tối Ánh sáng
  • Tối hết cả: đường phố, ngõ con…
  • Trống cầm canh: ngắn, khô khan, chìm ngay vào bong tối.

⇒ Bóng tối đang luồn lách, bám sát vào mọi cảnh vật, mọi hoạt động âm thầm của sinh vật, con người.

  • Khe ánh sáng, vệt sáng, quầng sáng, chấm lửa, hột sáng, ngọn đèn con của chị Tí (7 lần)

⇒ Lẻ loi, hiếm hoi, yếu ớt, không đủ xé rách màn đêm, làm cho đêm tối mênh mông hơn.

 

⇒ Tương phản: động – tĩnh; ánh sang – bóng tối, nhịp điệu câu văn chậm rãi… -> Khung cảnh phố huyện ảm đạm, xao xác, ngập chìm trong bóng tối đậm đặc.

  • Những kiếp người tàn:
    • Mấy đứa trẻ nhặt rác bãi chợ.
    • Mẹ con chị Tí: ban ngày mò cua bắt tép, tối đến dọn hàng nước, thắp một ngọn đèn leo lét. Chiều nào chị cũng dọn hàng từ chập tối đến đêm nhưng “chả kiếm được bao nhiêu…”
    • Bóng bác phở Siêu chập chờn trong đêm.
    • Vợ chồng bác xẩm góp chuyện bằng mấy tiếng đàn bầu bật trong yên lặng. Thằng con bò ra ngoài manh chiếu, nghịch nhặt những rác bẩn.
    • Bà cụ Thi hơi điên lại nghiện rượu với tiếng cười khanh khách, ghê sợ
    • Chị em Liên với hàng tạp hoá nhỏ xíu

→ Nhịp sống cứ lặp lại một cách đơn điệu, quẩn quanh, tẻ nhạt, mỏi mòn, buồn chán,… Tuy vậy, họ vẫn hi vọng – cho dù hi vọng đó rất mơ hồ: “Chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hằng ngày của họ”. Chính sự mong đợi mơ hồ này càng tô đậm thêm tình cảnh tội nghiệp của những nhân vật trong truyện.

⇒ Tất cả đều hiện ra trong cái nhìn xót xa, thương cảm của Thạch Lam, qua lời văn đều đều, chậm buồn, giàu chất thơ và những chi tiết dường như khách quan.

b. Hình ảnh đoàn tàu và tâm trạng chờ đợi của hai đứa trẻ.

  • Thạch Lam tập trung bút lực miêu tả một cách tỉ mỉ, kĩ lưỡng theo trình tự thời gian, qua tâm trạng chờ đợi của Liên và An.
  • Con tàu mang đến một thế giới khác:
    • Nó như con thoi ánh sáng xuyên thủng màn đêm phố huyện, đem lại ánh sáng xa lạ, rực rỡ chốn thị thành, át đi ánh sáng mờ ảo, yếu ớt của phố huyện.
    • Âm thanh của còi tàu, bánh xe rít trên đường ray và tiếng ồn ào của hành khách át đi buồn tẻ, đơn điệu phố huyện.
    • Nó là thói quen, là niềm vui, là sự chờ đợi -> trở thành nhu cầu thiết yếu như cơm ăn, nước uống hàng ngày cho đời sống tinh thần người dân phố huyện
  • Chị em Liên đợi tàu không phải vì mục đích là có khách mua hàng mà vì:
    • Nhìn thấy cái gì đó khác cuộc sống hàng ngày: mạnh mẽ, rực rỡ ánh sáng, giàu sang.
    • Niềm say mê
    • Mang đến thế giới kỷ niệm về Hà Nội

⇒ Đánh thức kỷ niệm về Hà Nội đẹp đẽ thiết tha.

  • Nhìn tàu là hành động thỏa mãn thị giác, tư tưởng -> nhìn thấy rõ hơn, sâu hơn sự tù túng, ngưng đọng của cuộc sống.

c. Nhân vật Liên

  • Là cô bé giàu tình thương:
    • Đối với những đứa trẻ nghèo nhặt rác “Liên động lòng thương nhưng chính chị cũng không có tiền để mà cho chúng”.
    • Đối với mọi người: luôn quan tâm, luôn đối xử ân cần, lễ phép và đầy tình người (cụ Thi, chị Tí, bác Xẩm).
  • Là cô bé chu đáo và đảm đang:
    • Là cô bé nghèo, cuộc sống cơm áo trói buộc cô vào chõng hàng.
    • Đối với em An: Thương yêu, lo lắng, chăm sóc, ân cần lời mẹ, “chiếc xà tích,… chị là con gái lớn và đảm đang”.
  • Là cô bé có tâm hồn nhạy cảm → làm nên chất thơ cho truyện.
    • Liên thấy lòng buồn man mác trước giờ khắc ngày tàn.
    • Liên nhạy cảm trước nỗi đau con người.
    • Liên cảm nhận được cảnh tối tăm mà Liên và những người xung quanh đang sống và là người biết mơ ước, khát khao ánh sáng.

⇒ Hiện thực buồn tẻ, tù đọng của tác phẩm càng nặng nề vì Liên đã ý thức được đầy đủ và sâu sắc về cuộc sống đó.

d. “Hai đứa trẻ”- bài ca về quê hương, đất nước

  • Bức tranh quê hương gần gũi mà không kém phần thơ mộng, đầy gợi cảm: “Chiều, chiều rồi…gió mát
  • Các nhân vật luôn gắn bó với thôn dã: “tưởng là mùi riêng của đất, của quê hương này
  • Hai đứa trẻ luôn luôn phát hiện những biến thái tinh tế của thiên nhiên: “Qua kẽ lá…

3. Tổng kết

a. Nghệ thuật

  • Truyện không có cốt truyện
  • Ngôn ngữ súc tích, giàu tính biểu cảm, giàu chất thơ.
  • Đan xen yếu tố lãng mạn và hiện thực.
  • Miêu tả tâm lí đặc sắc.

b. Nội dung

  • Thạch Lam đã thể hiện một cách nhẹ nhàng mà thấm thía niềm xót thương đối với những kiếp người sống cơ cực, quẩn quanh, bế tắc ở phố huyện nghèo trước cách mạng. Đồng thời, ông cũng thể hiện sự trân trọng đối với những mong ước tuy còn mơ hồ của họ.