Ôn tập văn học dân gian Việt Nam

1. Nội dung ôn tập

Câu 1: Đặc trưng cơ bản của văn học dân gian Việt Nam

Ôn tập văn học dân gian Việt Nam

Câu 2: Thể loại và đặc trưng của văn học dân gian Viêt Nam

Bảng tổng hợp các thể loại văn học dân gian

Truyện dân gian Câu nói dân gian Thơ ca dân gian Sân khấu dân gian
Thần thoại

Sử thi

Truyền thuyết

Truyện cổ tích

Truyện ngụ ngôn

Truyện cười

Truyện thơ

Tục ngữ

Câu đố

Ca dao- Dân ca

Câu đố

Chèo

Tuồng

Cải lương

Múa rối cạn

Múa rối nướ

Câu 3: Bảng tổng hợp so sánh các thể loại văn học dân gian Việt Nam

Ôn tập văn học dân gian Việt Nam

Câu 4: Nội dung và nghệ thuật của ca dao

a. Nội dung

Có 3 loại: ca dao than thân, ca dao yêu đương tình nghĩa và ca dao hài hước

  • Ca dao than thân:
    • Thường là lời của người phụ nữ trong xã hội Phong kiến xưa.
    • Thân phận của họ thường bị phụ thuộc vào những người khác trong xã hội, giá trị phẩm chất của họ không được người ta biết đến và trân trọng.
    • Thân phận ấy thường được so sánh như: củ ấu gai, tấm lụa đào, hạt mưa, miếng cau khô, cái giếng…
  • Ca dao yêu thương, tình nghĩa:
    • Đề cập đến tình bạn cao đẹp, tình yêu đôi lứa (với những cung bậc phong phú như nhớ thương, hờn giận…), tình cảm gia đình, tình nghĩa thủy chung của con người trong cuộc sống,…)
    • Ca dao yêu thương, tình nghĩa thường gắn với những biểu tượng như cái khăn, chiếc cầu,… vì đây là những vật, những nơi mà nam nữ thường có nhiều kỉ niệm. Cái khăn là kỉ vật luôn đi cùng người con gái. Nó mang theo hơi ấm của người yêu. Chiếc cầu là nơi nam nữ hẹn hò tâm sự.
    • Ca dao tình nghĩa còn thường sử dụng những ước lệ như cây đa, bến nước, con thuyền, gừng cay, muối mặn… Vì đó là những hình ảnh vừa gần gũi, quen thuộc với người bình dân vừa biểu tượng cho sự chia li, chờ đợi hay cho những ước muốn, khát khao về sự thủy chung tình nghĩa của con người.
  • Ca dao hài hước
Tiếng cười tự trào Tiếng cười phê phán
Tiếng cư­ời tự trào (tự cư­ời mình) là tiếng cư­ời lạc quan yêu đời của ngư­ời lao động. Họ đã lấy chính cái nghèo của mình để tự trào một cách hồn nhiên, hóm hỉnh. Dù cuộc sống nghèo hèn như­ng họ đã vư­ợt lên để sống một cách lạc quan bằng cách “thi vị hóa” cuộc sống của mình. Tiếng cư­ời hư­ớng vào những thói xấu trong một bộ phận quần chúng nhân dân nhằm đả kích, cải biến nó hoặc tiêu diệt nó (những hạng ngư­ời lư­ời nhác, ham ăn, những thầy bói dởm, những quan lại bất tài, những người phụ nữ đỏng đảnh, trăng hoa…)

 

  • Ca dao hài hước là sản phẩm của tâm hồn lạc quan yêu đời của người lao động. Nó nảy sinh ngay từ trong cuộc sống vất vả, khốn khó và bộn bề lo toan của người nông dân → Đáng được trân trọng.

 

b. Các biện pháp nghệ thuật thường sử dụng trong ca dao

  • Thường lặp lại các mô thức mở đầu : thân em, em như, cô kia, ước gì,…
  • Sử dụng nhiều các mô típ biểu tượng : gừng cay – muối mặn, con đò, bến đợi, ngọn đèn, tấm khăn, cái cầu,…
  • Sử dụng phổ biến các biện pháp so sánh, ẩn dụ, cường điệu, tương phản đối lập.
  • Sử dụng các thể thơ quen thuộc của dân gian (chủ yếu là lục bát).
  • Ngôn ngữ mang tính chất lời ăn tiếng nói hàng ngày, tuy rất đời thường nhưng mang nhiều hàm nghĩa sâu sắc… Các biện pháp nghệ thuật này có khá nhiều điểm khác với nghệ thuật thơ của văn học viết. Lí do của sự khác biệt đó là do ca dao, là sản phẩm, là tiếng nói của cộng đồng. Tập thể sáng tác bao giờ cũng có xu hướng tìm những cách thức diễn đạt có tính phổ biến chung. Trong khi đó những sáng tác của văn học viết lại in đậm những dấu ấn cá nhân (luôn có xu hướng tìm cách diễn đạt mới, lạ lẫm để thu hút độc giả và để tạo ra những “ấn tượng nghệ thuật” riêng)

Viết một bình luận