Nỗi oán của người phòng khuê

1. Tìm hiểu chung

a. Tác giả

  • Vương Xương Linh (698 – 757), tự là Thiếu Bá, quê ở Trường An, tĩnh Thiểm Tây, Trung Quốc, ông nổi tiếng rất sớm về tài văn chương
  • Tuy đỗ tiến sĩ nhưng Vương Xương Linh chỉ được giữ những chức quan nhỏ và bị biếm trích rất nhiều lần. Trong loạn An -Sử, ông lánh nạn ở vùng Giang, Hoài, bị tên thứ sử Lư Khâu Hiểu giết hại
  • Vương Xương linh là nhà thơ kiệt xuất thời Thịnh Đường, thường viết về đề tài biên tái, quân lữ, cung oán, khuê tình và tống biệt; đề tài nào ông cũng có những tác phẩm xuất sắc.
  • Thơ ông rất trang nhã, tinh tế, thanh tân, vừa giàu tính hiện thực, vừa đậm đà chất trữ tình, phản ánh những vấn đề lớn của thời đại như chiến tranh, đau thương, mất mát… Đặc biệt, ông thường đi sâu phân tích và thể hiện tâm lí, tình cảm của nhiều loại người như tầng lớp trí thức, tướng sĩ, binh lính, những thiếu phục có chồng ngoài mặt trận…

b. Tác phẩm

  • Thể loại: thất ngôn tứ tuyệt Đường luật
  • Bố cục:
    • Hai câu thơ đầu: Sự vô tư của người chinh phụ
    • Hai câu thơ sau: Nỗi niềm của người chinh phụ
  • Chủ đề: Nhà thơ mượn tâm trạng của một khê phụ trẻ để thông qua độ lên án chiến tranh phi nghĩa gây đau thương, mất mát cho mọi gia đình, cướp đi tuổi trẻ, tình yêu và hạnh phúc của bao người.

2. Đọc – hiểu văn bản

a. Hai câu thơ đầu: Sự vô tư của người chinh phụ

Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu,

Xuân nhật ngưng trang thướng thuý lâu.

(Trẻ trung nàng biết chi sầu,

Ngày xuân trang điểm lên lầu ngắm gương.)

  • Người chinh phụ có chồng ra trận mà lòng vẫn bình yên, vẫn làm công việc bình thường, hằng ngàymột cách vô tư và hồn nhiên
    • Trang điểm
    • Lên lầu ngắm cảnh

⇒ Ngươi chinh phụ vô tư, hồn nhiên, vui vẻ sống cuộc sống bình thường chưa biết “sầu” mặc dù thiếu vắng bóng người chồng

b. Hai câu cuối:

Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc,

Hối giao phu tế mịch phong hầu.

(Nhác trông vẻ liễu bên đường,

“Phong hầu”, nghĩ dại, xui chàng kiếm chi!)

  • Hình ảnh “màu dương liễu” xanh mơn mởn mà khuê phụ chợt thấy lúc bước lên lầu cao đã làm cho dòng cảm xúc của người chinh phụ chợt đổi chiều
  • Khơi gậy nỗi buồn biệt li trong người chinh phụ
  • Nhìn cành dương liễu và chợt nhận ra hạnh phúc, tuổi xuân trở nên mong manh biết nhường nào → khát vọng hạnh phúc.

→ Nỗi hối hận

⇒ Nhớ thương pha lẫn tiếc nuối và ân hận vì đã để chồng đi tòng quân. Nàng nhận ra tương lai gắn với chiến tranh là những bấp bênh, khó nhọc, là lành ít dữ nhiều. Và tận cùng trong sâu thẳm tâm can nàng giờ đây là nỗi oán hờn cho ấn phong hầu, cho chiến tranh phi nghĩa.

3. Tổng kết

a. Nội dung

  • Qua diễn biến tâm trạng của người thiếu phụ, nhà thơ đã góp nên một tiếng nói chống chiến tranh phi nghĩa.

b. Nghệ thuật

  • Cách vào đề đặc biệt
  • Cách chuyển đổi tâm lí nhân vật sâu sắc.
  • Ngôn từ tinh tế, hàm súc, giản dị.