Ca dao hài hước là một mảng đặc sắc trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, thể hiện tinh thần lạc quan, dí dỏm của người xưa. Qua những câu ca dao đầy hóm hỉnh, tác giả dân gian không chỉ mang đến tiếng cười mà còn gửi gắm những bài học sâu sắc về cuộc sống, tình yêu và quan hệ xã hội. Để hiểu rõ hơn về nội dung và nghệ thuật của những câu ca dao này, hãy cùng tham khảo nội dung soạn bài Ngữ văn 10 Ca dao hài hước.
Câu 1 trang 91 SGK Ngữ văn 10 tập 1
Bài ca thể hiện sự đối đáp dí dỏm giữa chàng trai và cô gái, xoay quanh chuyện cưới xin và lễ vật thách cưới. Cả hai sử dụng cách nói vui vẻ, hài hước để nói lên hoàn cảnh nghèo khó của mình.
- Lời chàng trai: Chàng trai mở đầu với những dự định lớn lao như muốn tổ chức đám cưới linh đình bằng cách dẫn voi, trâu, bò đến nhà gái.
- Lời cô gái: Đáp lại sự khoa trương của chàng trai, cô gái đưa ra thách cưới chỉ là “một nhà khoai lang”, càng nhấn mạnh sự đối lập giữa ước mơ và thực tế.
→ Cách dẫn cưới và thách cưới đều mang tính chất hài hước, giúp họ vui vẻ và thêm yêu đời dù hoàn cảnh còn nghèo khó.
Bài ca sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật để tạo tiếng cười:
- Nói quá: “Dẫn voi, dẫn trâu, dẫn bò” thể hiện ước mơ lớn lao.
- Tương phản: Giữa mong muốn tổ chức đám cưới hoành tráng và thực tế nghèo khó.
- Phủ định dí dỏm: Chàng trai viện đủ lý do để không dẫn voi, trâu, bò, làm tăng tính trào phúng cho bài ca.
Câu 2 trang 91 SGK Ngữ văn 10 tập 1
Tiếng cười trong bài 2, 3, 4 mang tính chất châm biếm, đả kích những thói xấu trong xã hội, góp phần phê phán một số kiểu người đáng chê trách.
2. Châm biếm nam nhi yếu đuối, không xứng đáng với sức trai.
Biện pháp đối lập, ngoa dụ:
+ Đối lập: Sức trai vạm vỡ nhưng lại khom lưng, uốn gối để gánh vác một việc nhỏ nhặt.
+ Ngoa dụ: Hình ảnh chàng trai gánh hai hạt vừng càng làm nổi bật sự yếu ớt, bất lực.
3. Đả kích đàn ông lười biếng, không có chí hướng.
Biện pháp nói quá, đối lập:
+ Đối lập: “Chồng người” siêng năng, tài giỏi >< “chồng em” vô dụng.
+ Hình ảnh: “Ngồi bếp sờ đuôi con mèo” thể hiện người đàn ông không làm việc, chỉ quanh quẩn ở góc bếp, sống dựa vào vợ.
4. Chế giễu phụ nữ vô duyên, xuề xòa.
Biện pháp nói quá kết hợp với hình ảnh gợi liên tưởng:
- Lỗ mũi mười tám gánh lông, đêm nằm ngáy o o, trên đầu những rác cùng rơm → phóng đại ngoại hình và thói quen xấu để tạo tiếng cười.
- Đi chợ hay ăn quà → ngụ ý sự ham ăn, thiếu ý tứ.
→ Những bài ca dao này không chỉ mang tính giải trí mà còn là lời châm biếm nhẹ nhàng, giúp con người tự soi xét và hoàn thiện bản thân hơn.
Câu 3 trang 91 SGK Ngữ văn 10 tập 1
Các biện pháp nghệ thuật thường được sử dụng trong ca dao hài hước:
- Phóng đại, cường điệu, kết hợp với sự đối lập để tạo tiếng cười châm biếm.
- Xây dựng hình tượng nhân vật bằng những nét đặc trưng, mang tính khái quát cao.
- Sử dụng ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, nhưng giàu sắc thái mỉa mai, trào phúng.
- Gợi ra những liên tưởng độc đáo, giúp nội dung thêm sinh động và hấp dẫn.
Luyện tập
Bài 1 trang 92 SGK Ngữ văn 10 tập 1
Lời thách cưới “một nhà khoai lang” của cô gái thể hiện sự khéo léo và hóm hỉnh trong cách ứng xử:
- Thay vì mặc cảm vì nghèo khó, cô gái lại tỏ ra vui vẻ, thoải mái, coi đó như một điều bình thường.
- Đây chính là cách thể hiện tinh thần lạc quan, yêu đời của những người lao động trong ca dao.
Bài 2 trang 92 SGK Ngữ văn 10 tập 1
Một số bài ca dao hài hước:
Lấy chồng cho đỡ nắng mưa
Chẳng ngờ chồng lại ngủ trưa đến giờ.
Gái sao chồng đánh chẳng chừa
Đi chợ vẫn giữ cùi dừa, bánh đa.
Sông bao nhiêu nước cũng vừa
Trai bao nhiêu vợ cũng chưa bằng lòng.
Thầy cúng ngồi cạnh giường thờ
Mồm thì lẩm bẩm tay sờ đĩa xôi.
Ca dao hài hước trong chương trình Soạn văn 10 không chỉ mang lại tiếng cười mà còn phản ánh sâu sắc đời sống, tâm tư của người lao động. Qua những câu ca dao này, ta thấy được sự hóm hỉnh, tinh tế và trí tuệ dân gian, góp phần làm phong phú kho tàng văn học dân gian Việt Nam.