Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí trang 8 SBT Văn 12 tập 1: Câu 1, 2, 3 trang 8…

Câu 1, 2, 3 trang 8 Sách bài tập (SBT) Ngữ Văn 12 tập 1. 1. Đề nào trong các đề làm văn sau đây thuộc loại nghị luận về một tư tưởng, đạo lí ?. Soạn bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí trang 8 Sách bài tập (SBT) Ngữ Văn 12 tập 1 –

1. Đề nào trong các đề làm văn sau đây thuộc loại nghị luận về một tư tưởng, đạo lí ?

Đề 1: Phải chăng “Cái nết đánh chết cái đẹp” ?

Đề 2 : Bài học đạo lí mà anh (chị) rút ra cho bản thân từ nhân vật Huấn Cao trong tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân.

Đề 3 : Anh (chị) suy nghĩ như thế nào về câu nói của nhà phê bình Viên Mai (Trung Quốc) : “Làm người thì không nên có cái tôi … nhưng làm thơ thì không thể không có cái tôi” ?

Đề 4 : Anh (chị) suy nghĩ gì về hiện tượng quá tin vào thần thánh phù hộ độ trì mà xem nhẹ sự cố gắng tu dưỡng, phấn đấu của bản thân trong một số thanh niên hiện nay ?

Đề 5: Ý kiến của anh (chị) về khẩu hiệu học tập của UNESCO : “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình”.

Trả lời:

Đề 1, 3, 5 thuộc loại đề nghị luận về một tư tưởng, đạo lí.

– Đề 1 : Đối tượng nghị luận : ý kiến cho rằng phẩm hạnh, đạo đức chứ không phải vẻ đẹp về hình thể là yếu tố cơ bản đánh giá con người.

– Đề 3 : Đối tượng nghị luận : ý kiến về vai trò của cái tôi (những rung động mãnh liệt từ con tim, những cách thể hiện độc đáo,…) trong sáng tạo thơ.

– Đề 5 : Đối tượng nghị luận : quan niệm về mục đích của việc học tập : học để biết, học để làm, học để chung sống và học để tự khẳng định mình.

Đề văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí rất gần gũi với đề văn nghị luận về một hiện tượng đời sống. Tuy nhiên, đề văn về một hiện tượng đời sống xuất phát từ một hiện tượng đã, đang xảy ra, từ đó mà lí giải, cắt nghĩa, đánh giá và rút ra bài học cần thiết. Trái lại, đề văn về một tư tưởng, đạo lí lại đưa ra một quan niệm tư tưởng, một đạo lí để người viết giải thích, bày tỏ ý kiến đánh giá, nhận xét và rút ra những bài học cần thiết về tư tưởng, đạo lí.

2. Bài tập 1, trang 21 – 22, SGK.

Đọc đoạn văn sau và thực hiện các yêu cầu nêu ở dưới.

[…] Văn hoá – đó có phải là sự phát triển nội tại bên trong một con người hay không ? Tất nhiên rồi. Đó có phải là cách ứng xử của anh ta với người khác không ? Nhất định là phải. Đó có phải là khả năng hiểu người khác không ? Tôi cho là thế. Đó có phải là khả năng làm cho người khác hiểu mình không ? Tôi cho là như vậy. Văn hoá nghĩa là tất cả những cái đó. Một người không thể hiểu được quan điểm của người khác tức là trong chừng mực nào đó anh ta có hạn chế về trí tuệ và văn hoá.

[…] Một trí tuệ có văn hoá, có cội nguồn từ chính nó, cần phải có những cánh cửa mở rộng. Nó cần có khả năng hiểu được đầy đủ quan điểm của người khác, mặc dù không phải bao giờ cũng đồng ý với quan điêm đó. Vấn đề đồng ý chỉ nảy sinh khi anh đã hiểu được sự việc. Nếu không, đó chỉ là sự cự tuyệt mù quáng, quyết không thể là cách tiếp cận có văn hoá đối với bất cứ vấn đề gì.

Đến đây, tôi sẽ để các bạn quyết định lấy văn hóa và sự khôn ngoan thật sự là gì. Chúng ta tiến bộ nhờ học tập, nhờ kiến thức và kinh nghiệm. Đến lúc tích lũy được một lượng khổng lồ các thứ đó, chúng ta lại trở nên không tài nào biết được mình đang ở đâu! Chúng ta bị tràn ngập bởi mọi thứ và không hiểu sao,  chúng ta lại có cảm giác rằng tất cả mọi thứ đó cộng lại chưa hẳn đã nhất thiết đại diện cho sự phát triển của trí khôn con người… Trong tương lai sắp tới, liệu chúng ta có thể kết hợp được tất cả sự phát triển của khoa học, của tri thức và những tiến bộ của con người với sự khôn ngoan thật sự hay không ? Tôi không biết. Đó là một cuộc chạy đua giữa các lực lượng khác nhau. Tôi nhớ đến một người rất thông thái – một nhà thơ Hi Lạp nổi tiếng, đã nói :

“Sự khôn ngoan là gì,

Chính là sự cố gắng của con người,

Vượt lên sợ hãi,

Vượt lên hận thù,

Sống tự do,

Thở hít khí trời và biết chờ đợi,

Dành trọn tình yêu cho những gì tươi đẹp”

(Gi. Nê-ru, theo Nhân dân chủ nhật, tháng 12 – 1997)

a) Vấn đề gì mà Gi. Nê-ru đưa ra nghị luận là gì? Căn cứ vào nội dung cơ bản của vấn đề ấy, hãy đặt tên cho văn bản.

b) Để nghị luận, tác giả đã sử dụng những thao tác lập luận nào? Nêu ví dụ.

c) Cách diễn đạt trong văn bản trên có gì đặc sắc?

Trả lời:

a) Có nhiều cách đặt tên cho văn bản. Việc đặt tên này tuỳ thuộc vào nội dung ý nghĩa của văn bản, kiểu loại văn bản và sở thích, thói quen của tác giả. Đối với văn bản nghị luận, tên văn bản thường nêu vấn đề nghị luận hoặc ý kiến, quan điểm của tác giả đối với vấn đề nghị luận đó. Bởi vậy, trước tiên cần phải tìm hiểu đề tài (vấn đề) nghị luận và quan điểm, ý kiến của tác giả về vấn đề đó.

– Vấn đề nghị luận: Quan hệ giữa tri thức và văn hoá.

– Quan niệm của tác giả : văn hoá là nền tảng của mọi tri thức, của con người khôn ngoan.

– Tên văn bản : Có thể đặt nhiều nhan đề khác nhau cho văn bản, miễn sao nêu được đối tượng và chủ đề của văn bản.

Ví dụ : Văn hoá và tri thức, Văn hoá là nền tảng của mọi tri thức…

b) Các thao tác lập luận được sử dụng trong bài:

– Giải thích: “Văn hoá – đó có phải là sự phát triển … về trí tuệ và văn hoá”.

– Bình luận : “Một trí tuệ có văn hoá, có cội nguồn từ chính nó … đối với bất cứ vấn đề gì”.

– Phân tích: “Đến đây, tôi sẽ để các bạn quyết định … cho những gì tươi đẹp”

c) Bài nghị luận bàn về một vấn đề tư tưởng, đạo lí của tác giả rất sinh động và hấp dẫn là do nghệ thuật diễn đạt.

– Kết hợp hỏi – đáp : Tự đặt ra câu hỏi rồi tự trả lời khẳng định, đặt ra câu hỏi rồi đưa ra những dữ liệu gọi ý để người đọc suy nghĩ trả lời.

– Kết hợp các kiểu câu khác nhau, sử dụng đan xen câu ngắn và câu dài làm cho bài văn biến hoá sinh động.

– Trích dẫn ý kiến của người khác nhưng lại là một ý kiến dưới dạng thơ rất thâm thuý, giàu tính chất triết lí, phù hợp với đề tài nghị luận.

3. Phân tích đề, lập dàn ý cho đề văn sau:

Nhà văn Nga Lép Tôn-xtôi nói : “Lí tưởng là ngọn đèn chỉ đường. Không có lí tưởng thì không có phương hướng kiên định, mà không có phương hướng thì không có cuộc sống”. Anh (chị) hãy nêu suy nghĩ về vai trò của lí tưởng và bày tỏ lí tưởng của riêng mình.

Trả lời:

Phân tích đề : Đề văn có hai phần:

– Giải thích ý kiến của Lép Tôn-xtôi:

+ Vai trò quan trọng của lí tưởng: như ngọn đèn chỉ đường.

+ Tác dụng: không có lí tưởng thì không có phương hướng do đó cũng không có cuộc sống.

– Suy nghĩ của bản thân :

+ Sống là phải có lí tưởng.

+ Tu dưỡng lí tưởng là công việc của đời người.

+ Thực hiện lí tưởng bắt đầu từ sự giác ngộ về lí tưởng và thể hiện hằng ngày trong mọi công việc cụ thể của bản thân.

Liên hệ thực tế vấn đề lí tưởng của thanh niên, học sinh trong cuộc sống hiện nay.